Trong lời bạt[1] viết cho Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện theo lời thỉnh của Tỳ kheo Tánh An, đại sư Liên Trì[2] đời Minh hạ bút:

Kinh Địa Tạng do ngài Thật Xoa Nan Đà đời Đường dịch, nhưng bản dịch hiện thời lại đề tên người dịch là Pháp Đăng, Pháp Cự, chẳng đề niên đại, cũng chẳng ghi nơi chốn dòng dõi người dịch, chẳng có cách nào khảo chứng ở trong Đại Tạng được. Đối chiếu kinh văn của hai bản dịch thì tuy có chút sai biệt nhưng đại thể thì vẫn là giống nhau, theo lẽ thì cũng chẳng hại gì. Nhưng xét ra nếu muốn bản kinh này thật sự được lưu truyền và tin tưởng thì ắt phải chọn lấy bản có căn cứ, do đó Tỳ kheo Tánh An mới thuận theo tiên chí, khắc in bản đời Đường dịch thay thế bản hiện thời.

Có người cho rằng bộ kinh này chỉ lăm băm bàn về nhân quả của chúng sanh cùng danh tướng trong địa ngục, chẳng có huyền luận gì, chẳng đáng để đời nay xem, cần gì phải dụng công khảo đính?[3] Ôi thôi! Vải thô, đậu thóc lúc bình thường sao sánh được với minh châu, nhưng vào năm mất mùa thì lại hóa ra tột quý. Cứu vớt chúng sanh trong thời đại Mạt Pháp, kinh này có thể thiếu được chăng?[4] Còn như tinh thần “Chúng sanh độ hết mới chứng Bồ đề, địa ngục chưa trống thề không thành Phật” thì những kẻ thích thăm dò lẽ huyền diệu cao siêu, hãy thử suốt đời nếm thử mùi vị ấy xem sao?

Trích lục từ ĐỊA TẠNG BỒ TÁT THÁNH ĐỨC ĐẠI QUAN, Hoằng Nhất đại sư biên thuật
Sách thay đổi cách nhìn về Kinh Địa Tạng.

—-
Chú thích:
[1] Lời bạt: Lời bình ở cuối quyển sách nhằm trình bày thêm một số ý kiến có liên quan đến tác phẩm.

[2] Liên Trì đại sư (1535 – 1615), cũng gọi là Châu Hoằng đại sư, Vân Thê đại sư, người đời nhà Minh, là Tổ sư đời thứ 8 của Tịnh độ tông. Đại sư lúc còn nhỏ đã thông minh lanh lợi, văn chương nổi tiếng khắp trong vùng, có căn duyên sâu với Pháp môn Tịnh độ. Năm 32 tuổi, Đại sư xuất gia học đạo với Thiền sư Tiếu Nham, tham cứu câu “Niệm Phật là ai?” liền đại ngộ. Năm 1571 (36 tuổi), đại sư đến núi Vân Thê ở Hàng Châu cất am tu hành, thí thực cho hổ đói, vì dân chúng mà niệm Phật cầu mưa, dân chúng hoan hỷ, cùng nhau xây đạo tràng cúng dường cho ngài. Đại sư cả đời đạo hạnh, hóa độ được rất nhiều người hữu duyên, để lại rất nhiều trước tác nổi tiếng như: A Di Đà Kinh Sớ Sao, Vãng Sanh Tập, Tịnh Độ Nghi Biện, Thiền Quan Sách Tấn, Phạm Võng Kinh Giới Sớ Phát Ẩn, Trúc Song Tùy Bút,…

[3] Khảo đính: Tra cứu, xem xét để sửa lại cho đúng.

[4] Nguyên văn: Y! Bố bạch, thục túc bình thời bất như minh châu, hung niên tắc vi chí bảo. Cứu Mạt pháp chi hung niên, thị Kinh kì khả thiếu da.

BÌNH LUẬN

Tên hiển thị
Xin hãy nhập usser của bạn