Trong lời tựa tác phẩm Trì Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Kiêm Khuyến Nhân (Tự trì kinh và khuyên người khác thọ trì Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện) của cư sĩ Kính Tâm, Tổ viết:

Ôi! Thánh mê niệm liền thành cuồng, cuồng chánh niệm liền thành Thánh, lẽ nguy hiểm, nhỏ nhiệm ấy đã rõ vậy. Phật Pháp cũng thế, một niệm mê, cõi Thường Tịch Quang biến thành địa ngục A Tỳ; một niệm ngộ, A Tỳ địa ngục liền thành cõi Thường Tịch Quang. Bởi thế, Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện cùng một huyết mạch với Kinh Hoa Nghiêm.
Hãy xét xem: Hoa Nghiêm thế giới chính là Không, chính là Giả, chính là Trung chẳng thể nghĩ bàn; các nỗi khổ trong địa ngục cũng chính là Không, chính là Giả, chính là Trung chẳng thể nghĩ bàn[1]. Hoa Nghiêm giảng về cõi Tịnh Độ vốn sẵn có trong tự tâm cho người biết mà quay về, Kinh Địa Tạng giảng sự khổ sẵn có trong tự tâm để người ta biết mà tránh. Một quay về, một tránh né, chỉ thú[2] khác xa nhau, nhưng cũng quy về tự tâm, ngoài tâm ra quyết chẳng có Pháp nào khác.

Nhà Nho nói đạo chỉ có hai: Nhân và bất nhân mà thôi; nguy sao, nhỏ nhiệm sao! Thích thiện và ham lợi chính là cửa ải phân chia giữa vua Thuấn và Đạo Chích, còn hay mất [thiện tâm] chính là điểm phân biệt giữa người và thú. Ai đọc đến kinh Bổn Nguyện mà chẳng nghĩ chuyện tự lợi, lợi tha, thoát địa ngục, về với Hoa Nghiêm, thì ắt phải là kẻ bất nhân đến cùng cực.

Cư sĩ Kính Tâm thương xót, đã cả đời thọ trì lại còn khuyên người, tôi bảo: Vừa phát tâm ấy, nỗi khổ trong địa ngục ngay lập tức ngưng mất cả. Hoan hỷ viết tựa để thay cho Pháp giới chúng sanh phổ khuyến vậy.

Ngoài ra, trong Bài Sớ Đọc Trong Pháp Hội Hoa Nghiêm Ở Phù Dung Các Núi Hoa Sơn, Tổ cũng có một đoạn khai thị về Kinh Địa Tạng như sau:

Tôi hay nói kinh Địa Tạng Bổn Nguyện và Kinh Hoa Nghiêm tám mươi quyển có thể bổ trợ lẫn nhau. Hoa Nghiêm dạy về Phật cảnh giới, xứng tánh chẳng thể nghĩ bàn; Kinh Bổn Nguyện giảng về cảnh giới địa ngục, cũng xứng tánh chẳng thể nghĩ bàn. Một Kinh là thuận theo tánh mà tu, hưởng thọ niềm vui pháp tánh chẳng thể nghĩ bàn; một Kinh là nghịch tánh mà tu, chịu đựng nỗi khổ chẳng thể nghĩ bàn. Thuận, nghịch tuy khác nhưng toàn tánh khởi tu, toàn tu tại tánh, vẫn là một.

Một niệm mê lầm tánh chẳng thể nghĩ bàn của Phật giới thì ngay nơi ý niệm đó, cõi Thường Tịch Quang hóa thành núi đao, rừng kiếm, lò than, vạc dầu. Một niệm ngộ tánh chẳng thể nghĩ bàn của địa ngục thì những khí cụ khổ độc trong Nê Lê (địa ngục) ngay trong ý niệm đó biến thành Phổ Quang Minh điện, Tịch Diệt đạo tràng. Mê, ngộ tuy khác, tánh đức chẳng tăng, chẳng giảm, lại cũng là một. Nhưng tánh đức dù chẳng tăng giảm, chẳng phải là thuận, nghịch chẳng thuộc về mê, ngộ, nhưng hễ mê thì liền nghịch tu trong cửu giới[3], liền cảm hai khổ báo phần đoạn tử và biến dịch tử[4].

Ngộ thì thuận tu trong Phật giới, liền thành hai thứ chuyển y: Bồ đề, Niết bàn. Mê là Tam hoặc, ngộ là Tam trí. Nghịch tu là Thập ác, Ngũ nghịch; thuận tu là Lục độ, Vạn hạnh. Sanh tử là Tam giới, Tứ tướng; chuyển y là Tam thân, Tứ đức[5]. Khổ chính là Pháp thân, Hoặc chính là Bát nhã, Nghiệp chính là Giải thoát. Ngạn ngữ nói: “Đẩy người hay nâng người cũng chỉ cùng một tay thôi, khen người hay chửi người cũng chỉ là một miệng thôi!”.

Đại Phật Đảnh là như nước thành băng, băng lại tan thành nước, chẳng tin nổi hay sao? Tôi tin chín đóa Phù Dung[6] đây có thể tiêu biểu cho chín hội của Kinh Hoa Nghiêm, há nào phải là Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện chỉ bàn về địa ngục, nhân quả, sự tướng mà thôi ư?

Huống nữa, Hoa Tạng thế giới an trụ trong đại liên hoa, Như Lai thành đạo cũng ngồi trên hoa sen báu. Nhưng các tên địa ngục Ưu bát la, Ba đầu ma v.v… cũng là tên các loài hoa sen xanh, hoa sen đỏ, đủ thấy một tên, một dụ, một sự, một pháp thảy đều có đủ thập giới, chỉ vì đương nhân mê hay ngộ, thuận hay nghịch mà thành như thế đó thôi. Pháp tánh chẳng thể nghĩ bàn, thể chẳng phải là các tướng, nhưng chẳng ngại các tướng phát huy, sao còn phân chia Địa ngục và Tịch Quang nữa vậy?

Nguyện các vị Khai sĩ[7] suất lãnh các đàn việt liền lấy đó làm nhân duyên thuận tu, khai phát chánh ngộ thì hai núi Thiết Vi chính là Kim Cang Bồ Đề đạo tràng, không cho ngọn lửa huyễn hiện sen vàng[8], đấy là đại diệu vậy!

Trích lục từ: ĐỊA TẠNG BỒ TÁT THÁNH ĐỨC ĐẠI QUAN
Hoằng Nhất đại sư biên thuật
Sách Thay đổi cách nhìn về Kinh Địa Tạng


—-
Chú giải:
[1] Không – Giả – Trung, một giáo nghĩa lớn của tông Thiên Thai.
+ Không: Quán niệm rằng tất cả mọi hiện tượng đều nương nhau mà có, cho nên chúng không có bản chất chân thật, tất cả đều là không.
+ Giả: Quán niệm rằng tất cả mọi sự vật đều biến đổi luôn luôn (Vô thường), không có tính đồng nhất, tuy chúng có hiện hữu, nhưng sự hiện hữu của chúng chỉ là giả tạm, không có gì tồn tại vĩnh viễn.
+ Trung đạo: Quán niệm rằng tất cả mọi hiện tượng vừa là không mà cũng vừa là giả, đồng thời không phải là không mà cũng không phải là giả.
-Tham khảo quyển Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản (Hạnh Cơ)-
[2] Chỉ thú: Tông chỉ và thú hướng. Giáo môn hay giáo nghĩa được một bộ Kinh đề cao, đặc biệt tuyên dương gọi là tông hay tông chỉ. Mục đích hướng về hay pháp môn tu hành mà bộ kinh quy kết lại gọi là thú hay thú hướng. Chỉ thú cũng thường được gọi là “tông thú”.

[3] Chín Pháp giới chúng sanh: 1- Địa ngục, 2- Ngạ quỷ, 3- Súc sanh, 4- Người, 5- A-tu-la, 6- Trời, 7- Thanh văn, 8- Duyên giác và 9- Bồ tát. Nếu có chỗ nói Thập pháp giới hay mười Pháp giới thì sẽ gồm thêm pháp giới thứ 10 là Phật.

[4] Hai loại sanh tử (nhị chủng sanh tử): Sự sanh tử của phàm phu sáu cõi thì gọi là “phần đoạn sanh tử” còn sự sanh tử (chuyển biến cảnh giới) của các bậc thánh nhân từ A la hán trở lên thì gọi là “biến dịch sanh tử”.

[5] Tam hoặc là Kiến tư hoặc, Trần sa hoặc, Vô minh. Tam trí là Nhất thiết trí, Đạo chủng trí, Nhất thiết chủng trí. Tam giới là Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới. Tứ tướng là Vô thường, Khổ, Vô ngã, Bất tịnh. Tam thân là Pháp thân, Hóa thân, Ứng thân. Tứ đức là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.

[6] Núi Cửu Hoa nơi ứng tích của Bồ Tát Địa Tạng có chín ngọn, thường được gọi là Phù Dung Cửu Đảnh sơn hay Phù Dung Cửu Đóa sơn. Đây là một trong Tứ đại danh sơn của Phật giáo tại Trung Quốc (Cửu Hoa Sơn, Phổ Đà Sơn, Ngũ Đài Sơn và Nga Mi Sơn), nằm về phía đông nam của thành phố Trì Châu, tỉnh An Huy, Trung Quốc.

[7] Khai sĩ: Một cách gọi khác của danh xưng Bồ tát, ý ở đây Tổ nói với tâm rất cung kính.

[8] Nguyên văn: Vô lịnh hỏa diệm huyễn tác kim liên.

BÌNH LUẬN

Tên hiển thị
Xin hãy nhập usser của bạn