HIẾU KINH CỦA NHÀ PHẬT

0
1292

HIẾU KINH CỦA NHÀ PHẬT 

NHIỀU TÁC GIẢ

Cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý

 

PHẦN I: TRÍCH LỤC KHAI THỊ CỦA TỔ SƯ ĐẠI ĐỨC

1. LỜI BẠT KINH ĐỊA TẠNG CỦA LIÊN TRÌ ĐẠI SƯ

Trong lời bạt[1] viết cho kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện theo lời thỉnh của Tỳ kheo Tánh An, đại sư Liên Trì[2] đời Minh hạ bút:

 Kinh Ðịa Tạng do ngài Thật Xoa Nan Ðà đời Ðường dịch, nhưng bản dịch hiện thời lại đề tên người dịch là Pháp Ðăng, Pháp Cự, chẳng đề niên đại, cũng chẳng ghi nơi chốn hay dòng dõi người dịch, chẳng có cách nào khảo chứng trong Ðại Tạng được. Đối chiếu kinh văn của hai bản dịch thì tuy có chút sai biệt nhưng đại thể thì vẫn là giống nhau, theo lẽ thì cũng chẳng hại gì. Nhưng xét ra nếu muốn bản kinh này thật sự được lưu truyền và tin tưởng thì ắt phải chọn lấy bản có căn cứ, do đó Tỳ kheo Tánh An mới thuận theo tiên chí, khắc in bản đời Ðường dịch thay thế bản hiện thời.

Có người cho rằng bộ kinh này chỉ lăm lăm bàn về nhân quả của chúng sanh cùng danh tướng trong địa ngục, chẳng có huyền luận gì, chẳng đáng để đời nay xem, cần gì phải dụng công khảo đính?[3] Ôi thôi! Vải thô, đậu thóc lúc bình thường sao sánh được với minh châu, nhưng vào năm mất mùa thì lại hóa ra tột quý. Cứu vớt chúng sanh trong thời đại Mạt pháp, kinh này có thể thiếu được chăng?[4] Còn như tinh thần “Chúng sanh độ hết mới chứng Bồ đề, địa ngục chưa trống thề không thành Phật” thì những kẻ thích thăm dò lẽ huyền diệu cao siêu, hãy thử suốt đời nếm thử mùi vị ấy xem sao?

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Thánh Ðức Ðại Quan, Hoằng Nhất đại sư biên thuật”, cư sĩ Tâm Hiếu chuyển ngữ, trích lục và chỉnh lý.

2. NGẪU ÍCH ĐẠI SƯ CẢM ÂN ĐỊA TẠNG BỒ TÁT

Đại sư Ngẫu Ích[5] lúc còn trẻ, khi chưa xuất gia thường hay báng Phật, sau nghe kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện liền phát tâm xuất thế. Bởi thế, cả đời ngài tận lực hoằng dương, tán thán Ðịa Tạng Bồ tát. Trong bộ Linh Phong Tông Luận, có rất nhiều đoạn Tổ tán thán và cảm ân Ðịa Tạng Bồ tát, xin trích dẫn ra vài đoạn như sau:  

Trong Thư Gởi Liễu Nhân Và Hết Thảy Tăng Tục, Tổ nói: Húc tôi lúc 12, 13 tuổi, nhân phóng túng học đạo liền hủy báng Tam bảo, tội ấy đáng phải bị đọa vào địa ngục Vô Gián, chẳng thuộc trong số những kẻ được cứu vớt trong 48 nguyện của đức Phật A Di Ðà. May thay thiện căn của tôi vẫn chưa bị diệt sạch, lại ngầm được sức gia trì của hai vị Đại sĩ Quán Âm cùng Ðịa Tạng nên nay đã chuyển nghi thành tín, cải tà quy chánh. Từ năm 20 tuổi đến nay, tận tâm tận lực hoằng truyền chánh pháp hòng tiêu tội báng pháp…

Trong phần lời tựa bộ Tán Lễ Ðịa Tạng Bồ Tát Sám Nguyện Nghi, Tổ nói: Trí Húc tôi ân hận sâu xa thói quen tai ác từ đời trước, tuổi trẻ cực lực báng bổ Tam bảo, tạo tội Vô Gián, may thay thiện căn chưa mất sạch, còn được nghe Bổn Nguyện tôn kinh, biết lẽ đại hiếu xuất thế, chuyển tâm tà kiến, phát lòng chánh tín, nhưng cũng bởi dư nghiệp báng pháp, dẫu siêng năng nhọc nhằn tu chứng vẫn chưa đắc được Pháp nhẫn. Đến nay mỗi phen giở ba kinh của Đại sĩ[6] ra đọc liền chẳng ngăn nổi nước mắt đầm đìa, buồn tiếc ngày xưa vô tri, càng cảm ân Đại sĩ đã cứu vớt…

Trong Thư Gởi Tăng Chúng Thường Trụ Núi Cửu Hoa, Tổ cũng nói: Trí Húc tôi bất tiếu, tuổi nhỏ vô tri, hủy báng Tam bảo, tội đầy hư không, nương nhờ lòng từ sâu xa, thệ nguyện nồng hậu của Ðịa Tạng Đại sĩ đã dẹp tan tà kiến của tôi, khiến cho tôi được dự ké vào hàng chúng Tăng; bởi thế nay tôi xưng mình là viên quan cô độc của Ðịa Tạng Bồ tát, tất cả đại chúng trên núi Cửu Hoa đều là ấu chúa của tôi…

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Thánh Ðức Ðại Quan, Hoằng Nhất đại sư biên thuật, Như Hòa chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 3. NGẪU ÍCH ĐẠI SƯ KHAI THỊ VỀ KINH ĐỊA TẠNG

       Trong lời tựa tác phẩm Trì Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Kiêm Khuyến Nhân (Tự trì kinh và khuyên người khác thọ trì kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện) của cư sĩ Kính Tâm, Tổ viết:

Ôi! Thánh mê niệm liền thành cuồng, cuồng chánh niệm liền thành Thánh, lẽ nguy hiểm, nhỏ nhiệm ấy đã rõ vậy. Phật pháp cũng thế, một niệm mê, cõi Thường Tịch Quang biến thành địa ngục A Tỳ; một niệm ngộ, A Tỳ địa ngục liền thành cõi Thường Tịch Quang. Bởi thế, kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện cùng một huyết mạch với kinh Hoa Nghiêm.

Hãy xét xem: Hoa Nghiêm thế giới chính là Không, chính là Giả, chính là Trung chẳng thể nghĩ bàn; các nỗi khổ trong địa ngục cũng chính là Không, chính là Giả, chính là Trung chẳng thể nghĩ bàn[7]. Hoa Nghiêm giảng về cõi Tịnh độ vốn sẵn có trong tự tâm cho người biết mà quay về, kinh Ðịa Tạng giảng sự khổ sẵn có trong tự tâm để người ta biết mà tránh. Một quay về, một tránh né, chỉ thú[8] khác xa nhau, nhưng cũng quy về tự tâm, ngoài tâm ra quyết chẳng có pháp nào khác.

Nhà Nho nói đạo chỉ có hai: Nhân và bất nhân mà thôi; nguy sao, nhỏ nhiệm sao! Thích thiện và ham lợi chính là cửa ải phân chia giữa vua Thuấn và Ðạo Chích, còn hay mất [thiện tâm] chính là điểm phân biệt giữa người và thú. Ai đọc đến kinh Bổn Nguyện mà chẳng nghĩ chuyện tự lợi, lợi tha, thoát địa ngục, về với Hoa Nghiêm, thì ắt phải là kẻ bất nhân đến cùng cực.

Cư sĩ Kính Tâm thương xót, đã cả đời thọ trì lại còn khuyên người, tôi bảo: Vừa phát tâm ấy, nỗi khổ trong địa ngục ngay lập tức đã ngưng mất cả. Hoan hỷ viết tựa để thay cho pháp giới chúng sanh phổ khuyến vậy.

Ngoài ra, trong Bài Sớ Đọc Trong Pháp Hội Hoa Nghiêm Ở Phù Dung Các Núi Hoa Sơn, Tổ cũng có một đoạn khai thị về kinh Địa Tạng như sau:

Tôi hay nói kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện và kinh Hoa Nghiêm tám mươi quyển có thể bổ trợ lẫn nhau. Hoa Nghiêm dạy về Phật cảnh giới, xứng tánh chẳng thể nghĩ bàn; kinh Bổn Nguyện giảng về cảnh giới địa ngục, cũng xứng tánh chẳng thể nghĩ bàn. Một kinh là thuận theo tánh mà tu, hưởng thọ niềm vui pháp tánh chẳng thể nghĩ bàn; một kinh là nghịch tánh mà tu, chịu đựng nỗi khổ chẳng thể nghĩ bàn. Thuận, nghịch tuy khác nhưng toàn tánh khởi tu, toàn tu tại tánh, vẫn là một.

Một niệm mê lầm tánh chẳng thể nghĩ bàn của Phật giới thì ngay nơi ý niệm đó, cõi Thường Tịch Quang hóa thành núi đao, rừng kiếm, lò than, vạc dầu. Một niệm ngộ tánh chẳng thể nghĩ bàn của địa ngục thì những khí cụ khổ độc trong Nê Lê (địa ngục) ngay trong ý niệm đó biến thành Phổ Quang Minh điện, Tịch Diệt đạo tràng. Mê, ngộ tuy khác, tánh đức chẳng tăng, chẳng giảm, lại cũng là một. Nhưng tánh đức dù chẳng tăng giảm, chẳng phải là thuận, nghịch chẳng thuộc về mê, ngộ, nhưng hễ mê thì liền nghịch tu trong cửu giới[9], liền cảm hai khổ báo phần đoạn tử và biến dịch tử[10].

Ngộ thì thuận tu trong Phật giới, liền thành hai thứ chuyển y: Bồ đề, Niết bàn. Mê là Tam hoặc, ngộ là Tam trí. Nghịch tu là Thập ác, Ngũ nghịch; thuận tu là Lục độ, Vạn hạnh. Sanh tử là Tam giới, Tứ tướng; chuyển y là Tam thân, Tứ đức[11]. Khổ chính là Pháp thân, Hoặc chính là Bát nhã, Nghiệp chính là Giải thoát. Ngạn ngữ nói: “Ðẩy người hay nâng người cũng chỉ cùng một tay thôi, khen người hay chửi người cũng chỉ là một miệng mà thôi!”.

Ðại Phật Ðảnh là như nước thành băng, băng lại tan thành nước, chẳng tin nổi hay sao? Tôi tin chín đóa Phù Dung[12] đây có thể tiêu biểu cho chín hội của kinh Hoa Nghiêm, há nào phải là kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện chỉ bàn về địa ngục, nhân quả, sự tướng mà thôi ư?

Huống nữa, Hoa Tạng thế giới an trụ trong đại liên hoa, Như Lai thành đạo cũng ngồi trên hoa sen báu. Nhưng các tên địa ngục Ưu bát la, Ba đầu ma v.v… cũng là tên các loài hoa sen xanh, hoa sen đỏ, đủ thấy một tên, một dụ, một sự, một pháp thảy đều có đủ thập giới, chỉ vì đương nhân mê hay ngộ, thuận hay nghịch mà thành như thế đó thôi. Pháp tánh chẳng thể nghĩ bàn, thể chẳng phải là các tướng, nhưng chẳng ngại các tướng phát huy, sao còn phân chia địa ngục và Tịch Quang nữa vậy?

Nguyện các vị Khai sĩ[13] suất lãnh các đàn việt liền lấy đó làm nhân duyên thuận tu, khai phát chánh ngộ thì hai núi Thiết Vi chính là Kim Cang Bồ Ðề đạo tràng, không cho ngọn lửa huyễn hiện sen vàng[14], đấy là đại diệu vậy!

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Thánh Ðức Ðại Quan, Hoằng Nhất đại sư biên thuật, Như Hòa chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

4. ẤN QUANG ĐẠI SƯ TÁN DƯƠNG ĐỊA TẠNG BỒ TÁT

Trong bộ Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên, Ấn Tổ[15] có rất nhiều đoạn khai thị và tán dương Địa Tạng Bồ tát cùng Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh, xin lược trích ra vài đoạn như sau:

Trong phần Lời Tựa Tu Chỉnh Cửu Hoa Sơn Chí (Năm Dân Quốc 26 – 1937), Tổ nói: Cửu Hoa Sơn là đạo tràng ứng hóa của Địa Tạng Bồ tát. Địa Tạng Bồ tát trong vô lượng kiếp trước đã chứng Pháp thân từ lâu, đã thành Phật đạo, nhưng chẳng ở địa vị Phật. Do phát nguyện: “Độ hết chúng sanh mới chứng Bồ đề, địa ngục chưa trống thề không thành Phật”, tâm xót thương chúng sanh chịu nỗi khổ sanh tử sâu đậm, thiết tha không cách nào diễn tả được! Vì thế, khi đức Phật vì mẹ thuyết pháp trên cung trời Đao Lợi, mười phương thế giới chư Phật, Bồ tát, thiên long bát bộ đều đến dự hội, dẫu dùng Phật nhãn vẫn chẳng thể tính biết được! Những vị Phật, Bồ tát ấy đều do ngài Địa Tạng giáo hóa nên mới đắc đạo quả, nhưng ngài Địa Tạng vẫn hiện thân dưới hình tướng Thanh văn. Ngoài việc hiện đủ mọi loại thân để thuyết pháp trong mười phương thế giới ra, ngài lại thường trụ trong chốn u minh khổ sở tột bậc để cứu độ. Mười phương chư Phật, Bồ tát không vị nào chẳng tán thán tấm lòng sâu thẳm “hưng lòng từ, vận lòng bi” của ngài. Đại sư Ngẫu Ích vừa đọc kinh Địa Tạng Bồ tát Bổn Nguyện liền phát đại Bồ đề tâm, do đức Địa Tạng là thầy của chư Phật, là mẹ của các Bồ tát vẫn còn miệt mài chuyên chú độ bọn ta, nếu bọn ta chẳng coi “ta và người cùng thoát sanh tử” là chí hướng, sự nghiệp thì cô phụ từ ân cũng lớn lắm thay!

       Trong phần Tán Dương Tượng Địa Tạng Bồ tát, Tổ tán thán: Cao cả thay Đại sĩ! Thệ nguyện rộng sâu, nghĩ thương chúng sanh luân hồi kiếp dài lâu, vận lòng Bi đồng thể, khởi lòng Từ vô duyên, thường ở trong địa ngục để mong cứu kẻ bị treo ngược[16]. “Chúng sanh độ hết mới chứng Bồ đề, địa ngục chưa trống thề không thành Phật”, do nhân duyên ấy được chư Phật ngợi khen, huống chi những kẻ đang ở trong lục đạo há nên chẳng bi luyến? Hư không có cùng tận, nhưng thệ nguyện vô cùng. Muốn báo ân sâu, riêng in tôn kinh, nguyện kẻ thấy nghe đều cùng sanh tịnh tín, lần lượt lưu truyền, lợi ích vô tận.

       Trong phần Kệ Tán Dương Địa Tạng Bồ tát, Tổ cũng tán thán rằng:  

Đại sĩ thệ nguyện há thể lường,

Lòng bi trọn khắp cõi vô ương,

Chúng sanh độ hết mới xong thệ,

Địa ngục trống rồi nguyện mới thôi.

Giáo hóa nhiều người thành Phật đạo,

Tự thân vẫn hiện tướng Thanh văn,

Chúng sanh và Phật tánh vốn một,

Cùng muốn ta người chứng Pháp Vương[17].

Địa Tạng Bồ tát đại từ bi,

Thệ nguyện vĩnh viễn chẳng hề hết,

Giáo hóa thành Phật số khôn xiết,

Vẫn hiện oai nghi bậc Thanh văn,

Đến khi địa ngục độ hết sạch,

Mới chịu thị hiện chứng Bồ đề,

Khẩn nguyện ban ân khắp u  hiển,

Cùng theo hải hội dự Liên Trì[18].

       Trích lục từ: “Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên Quyển Hạ, Như Hòa chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

5. LỜI TỰA KINH ĐỊA TẠNG CỦA ẤN QUANG ĐẠI SƯ

Cũng trong bộ Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên, Ấn Tổ từng viết lời tựa cho kinh Địa Tạng trong phần Lời Tựa Lưu Thông Kinh Địa Tạng In Theo Lối Thạch Bản (Năm Dân Quốc 17 – 1928), nguyên văn như sau:

Tâm chúng sanh và tâm Phật không hai. Kẻ chẳng thể làm Phật, thường làm chúng sanh là vì chính họ chẳng có huệ lực, chẳng thể giác ngộ, lại không có thiện tri thức chỉ dạy. Do vậy, diệu tâm sẵn có Phật tánh trở thành căn bản để khởi Hoặc[19] tạo nghiệp đến nỗi luân hồi cả kiếp dài lâu, trọn chẳng có thuở thoát ra, chẳng đáng buồn ư? Vì thế, lúc mới thành Chánh giác, đức Thế Tôn ta bèn lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẹ, vì muốn cho hết thảy chúng sanh đều cùng mong báo ơn cha mẹ, nên đặc biệt dạy rõ Địa Tạng Bồ tát trong những kiếp xưa do cứu mẹ đã rộng phát thệ nguyện Bồ đề để làm thuyền bè cho chúng sanh trong tương lai được thoát biển khổ.

Toàn bộ kinh văn kinh Địa Tạng Bổn Nguyện dạy cặn kẽ cả sự lẫn lý, văn từ rõ ràng, thoáng đạt, nêu tỏ trọn vẹn những nghĩa lý: “Tâm này làm Phật, tâm này là Phật; tâm này làm chúng sanh, tâm này là chúng sanh”“Tâm có thể tạo nghiệp thì tâm có thể chuyển nghiệp, tâm chẳng chuyển được nghiệp thì nghiệp sẽ trói buộc tâm” v.v… Hai câu chuyện đức Địa Tạng trong kiếp xưa cứu mẹ càng nêu thật sát sao, rõ ràng ý nghĩa này.  Thật có thể gọi là: “Người dẫn đường nơi lối hiểm, đuốc huệ nơi đường tối, kho báu cho kẻ nghèo thiếu, gạo thóc cho năm đói kém” khiến cho hết thảy chúng sanh mê muội mau được giác ngộ, hết thảy những đứa con hiếu thuận có được sư thừa[20]. Lợi ích của kinh này chẳng thể nào tuyên nói hết! Tây Thiên, Đông Độ, những người đọc kinh này bèn khởi chí cũng chẳng thể nào đếm xuể!

Hòa thượng Chân Đạt muốn báo ân võng cực[21], tính mời người viết chữ đẹp cung kính chép kinh này để in theo lối thạch bản thí tặng, gặp đúng lúc cư sĩ Trí Chuẩn Lỗ Chỉ Nam đem bản kinh Kim Cang do chính ông ta tự viết xin hòa thượng giảo chánh. Sư thấy cư sĩ vì muốn báo ân cha mẹ liền đích thân cung kính chép kinh Kim Cang để thường trì tụng, ắt cũng sẽ vui sướng chép kinh này, nên bèn khẩn khoản nhờ chép, liền được cư sĩ nhận lời. Hòa thượng sai Quang viết lời tựa phơi bày trọn vẹn sự lợi ích của kinh, hòng phát khởi tấm lòng hiếu thảo của những kẻ làm con trong thế gian, mong họ sẽ tùy thời, tùy việc trọn hết đạo hiếu.

Nghĩ đến ân sâu cù lao[22], ắt sẽ thực hiện cho đến khi cha mẹ ta được rốt ráo an ổn nơi bảo sở mới thôi. Do vậy, dùng tâm chí thành, niệm thánh hiệu Phật, kèm thêm kính cẩn giữ vẹn luân thường, trọn hết thiên chức của chính mình, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, dùng công đức này để giúp cho cha mẹ ta, mong cho cha mẹ còn sống sẽ được nghiệp chướng tiêu trừ, thiện căn tăng trưởng, phước thọ tăng cao, trí huệ khơi mở, đã khuất bóng thì thần hồn siêu thăng cõi Tịnh, nghiệp trả lại trần lao, chứng Vô sanh nhẫn, ở vào địa vị Bất thoái, ngõ hầu hơi trọn được tấm lòng riêng của quạ[23], chẳng làm đấng sanh thành phải thẹn. Lại còn phải biết: Hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, là chư Phật trong vị lai, hãy nên dùng tâm Đại Bồ đề tùy thuận cơ nghi vì họ tuyên nói và cứu giúp hòng khế hợp Phật tâm, phù hợp cái nguyện của chính mình, quạt gió Từ dập tắt ác nghiệp, sẽ thấy lễ nghĩa, nhân nhượng được hưng khởi, can qua dứt bặt mãi mãi, phong tục tốt đẹp, thiên hạ hòa bình!

Trích lục từ: “Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên Quyển Hạ, Như Hòa chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

6. HOẰNG NHẤT ĐẠI SƯ KHAI THỊ VỀ KINH ĐỊA TẠNG

       Tôi[24] đến Vĩnh Xuân đã được hơn một năm rưỡi. Mùa hè năm ngoái, cư sĩ Vương Mộng Tỉnh gửi thư đến tỏ ý muốn cùng các vị cư sĩ như Lâm Tử Kiên, v.v… lên chùa Phổ Tế mời tôi xuống phố để giảng kinh. Lúc đó tôi hồi âm, bảo hãy đợi đến mùa thu trời mát thì tôi sẽ xuống phố giảng ba ngày, chủ đề là “Đại Ý Kinh Kim Cang”. Đến tháng bảy tôi bế quan tọa thiền, cho nên không đi được. Tối hôm qua, cư sĩ Mộng Tỉnh cùng quý vị nhân hào lên núi thăm viếng, nhân trời mưa đã nghỉ đêm trên chùa. Hôm nay ngày Thánh vía đức Bồ tát Địa Tạng, nhân cơ duyên thù thắng này, tôi xin giảng về yếu chỉ “Người Tu Tịnh Độ Nên Kiêm Tụng Kinh Địa Tạng”.

       Phương pháp tu trì của hành giả Tịnh độ, đương nhiên lấy ba kinh Tịnh độ làm chánh yếu. Ngoài ba bộ kinh này ra, hành giả nên kiêm tụng kinh Địa Tạng để làm trợ hạnh, đây là vì Bồ tát Địa Tạng có nhân duyên lớn với chúng sanh ở cõi Ta bà này. Vả lại, kinh Địa Tạng đặc biệt khế hợp với chúng ta, những chúng sanh căn khí tầm thường. Vì vậy, hôm nay đặc biệt khuyến khích quý vị, những người tu Tịnh độ, nên kiêm tụng kinh Địa Tạng Bồ tát Bổn Nguyện. Tôi xin cẩn thận thuật lại những ý chỉ như sau để quý vị, những hành giả Tịnh độ có thêm tài liệu để làm tham khảo.

       Thứ nhất: Pháp môn Tịnh độ từ xưa đến nay, có nhân duyên rất sâu với Bồ tát Địa Tạng. Tổ thứ tám của Tịnh độ tông chúng ta là đại sư Liên Trì đã soạn bài tựa cho kinh Địa Tạng[25], khen ngợi và khuyến khích việc hoằng truyền. Đến Tổ thứ chín của chúng ta là đại sư Ngẫu Ích, trọn đời phụng sự Bồ tát Địa Tạng, càng hết lòng ca ngợi và hoằng dương. Ngài trụ ở tại núi Cửu Hoa rất lâu, tự xưng là “Địa Tạng cô thần”[26]. Cả đời ngài siêng năng lễ lạy Địa Tạng sám nghi, thường trì niệm Địa Tạng chân ngôn, cầu mong tiêu trừ nghiệp chướng, vãng sanh Tịnh độ. Hiện nay, bậc thái sơn bắc đẩu của Tịnh độ tông là ngài pháp sư Ấn Quang, đối với kinh Địa Tạng lại càng hoằng truyền rộng rãi, đã từng in ấn đến hàng vạn quyển gửi đi khắp nơi để phổ biến, khiến cho nhiều người tu Tịnh độ cùng chí tâm đọc tụng, y giáo hành trì. Hôm nay, tôi cũng y theo quy hướng của các vị Tổ Tịnh độ, khuyên nhắc tất cả quý vị nên kiêm tu pháp môn Địa Tạng. Hiện tại thắng duyên tụ hội, đây không phải là một sự ngẫu nhiên.

       Thứ hai: Pháp môn Địa Tạng lấy ba kinh làm chủ yếu là kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, kinh Địa Tạng Thập Luân và kinh Địa Tạng Bồ Tát Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo. Tuy kinh Bổn Nguyện chưa nói rõ ý nghĩa vãng sanh Tịnh độ, nhưng hai kinh kia thì đều đề cập đến. Kinh Thập Luân nói: “Nên sanh cõi Tịnh độ, chỗ ở của Đạo sư”. Kinh Chiêm Sát nói: “Nếu muốn vãng sanh về cõi Tịnh độ, tùy theo vị giáo chủ ở cõi đó, mà chuyên tâm nhất ý, một lòng không loạn, niệm danh hiệu của ngài. Hành giả quán sát như trên, ắt sẽ vãng sanh về cõi đó”. Bởi thế, ngài Ngẫu Ích đại sư, Tổ thứ chín của Tịnh độ tông chúng ta, khi lễ lạy Chiêm Sát Sám, đã làm bài văn phát nguyện như sau: “Xả thân mạng này, nguyện được sanh trước đức Phật, thừa sự đức A Di Đà, đi khắp mười phương, phụng sự chư Phật, được các ngài thọ ký, sau đó trở lại cõi sanh tử, cứu độ chúng sanh mê lầm, đồng thành Phật đạo”. Do đây mà biết rằng, pháp môn Địa Tạng thật sự có quan hệ mật thiết với Tịnh độ tông, không chỉ là “khác đường cùng quy về một nơi” mà còn là “động cơ tu hành là nhất trí”.

       Thứ ba: Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy tu tập ba phước[27] là chánh nhân để vãng sanh Tịnh độ, trong đó điều kiện đầu tiên của ba phước là hiếu dưỡng cha mẹ, thế mà trong kinh Địa Tạng lại trình bày đầy đủ nhân duyên của ngài Địa Tạng hiếu thuận với mẹ của mình trong quá khứ. Các vị cổ đức gọi kinh Địa Tạng là “Hiếu kinh của Phật giáo”, điều này không phải là không có lý do. Bởi vậy các bạn đồng tu, chúng ta hãy trì tụng kinh Địa Tạng, hầu làm sáng tỏ thêm ý chỉ “hiếu dưỡng” của kinh Quán Vô Lượng Thọ. Hơn nữa, phải nỗ lực tuân hành, đặc biệt tôn sùng đạo hiếu, báo ơn cha mẹ, tu tập phước duyên thù thắng.

       Thứ tư: Ngài pháp sư Ấn Quang, khi dạy mọi người trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà cầu sanh Tây Phương, trước tiên khuyên họ tin sâu nhân quả báo ứng, không làm các điều ác, nên làm các việc lành, rồi sau đó mới nói: “Nương vào Từ lực của Phật, đới nghiệp vãng sanh”, thế mà kinh Địa Tạng lại giảng rất tường tận về nhân quả báo ứng. Bởi vậy các bạn đồng tu, chúng ta hãy thường trì tụng kinh Địa Tạng, y giáo phụng hành, giúp cho Tịnh nghiệp ngày thêm vững chắc. Nếu như chưa tin sâu nhân quả báo ứng, thì cũng sẽ không thiết thực chú trọng đến luân thường đạo đức. Như thế, ắt sẽ không những không vãng sanh Tây Phương, mà lại còn rất có thể đọa vào ba đường ác. Hôm nay, tôi xin mạo muội khuyến khích tất cả các vị tu Tịnh độ, hãy nên tin sâu nhân quả, thường phải kiểm điểm những hành vi thường ngày của mình. Chân thành sám hối, nỗ lực sửa đổi lỗi lầm, sau đó tu trì Ngũ giới, Thập thiện, v.v… dùng đây làm trợ hạnh cho sự niệm Phật, đây cũng là hành trang cho sự vãng sanh vậy.

       Thứ năm: Chúng ta những người tu Tịnh độ, nếu như có thể buông xả tất cả những hoàn cảnh hiện tại, như khổ, vui, thuận, nghịch, v.v…, không chút luyến tiếc. Nương vào cảnh khổ để tiêu trừ thân kiến, nhờ nghịch duyên mà kiên cố chí nguyện Tịnh độ, đây là điều vô cùng tốt đẹp, thế nhưng trong ngàn vạn người hiếm có một hai người. Bởi vì chúng ta ở trong địa vị phàm phu, tuy biết tùy phần tùy lực tu tập Tịnh nghiệp, nhưng đối với thân tâm thế giới chưa thể hoàn toàn buông xả, vẫn còn có những nhu cầu ăn mặc, vẫn còn phải lo lắng trước những hoàn cảnh bên ngoài như thiên tai, giặc giã, chiến tranh v.v… Giả như nếu lâm vào hoàn cảnh sanh hoạt khó khăn, tai họa triền miên, vậy thì việc tu hành kể như sẽ bị chướng ngại rất lớn. Hiện nay, nếu như có thể quy y cùng tin tưởng đức Bồ tát Địa Tạng, ắt sẽ không còn có những thứ lo lắng như vậy. Như trong kinh Địa Tạng, quyển trung có ghi: “Có thể khiến cho chúng ta thức ăn, y phục đầy đủ, không bị tật bệnh, gia đình an lạc, cầu chi liền được nấy, thọ mạng tăng gia, không bị hao tốn, đi đâu cũng đều có thiện thần hộ trì, không còn các tai nạn, v.v…”. Các bậc cổ đức thường hay nói: “Thân tâm an lạc, thì đạo nghiệp mới tăng tiến”. Đây chính là điều mà chúng tôi muốn đề cập đến. Cho nên, hôm nay tôi xin khuyến cáo các vị đồng tu Tịnh độ, cần phải quy y cùng tin tưởng Bồ tát Địa Tạng.

       Vừa rồi là tôi đã nói sơ lược về ý chỉ của việc trì tụng kinh Địa Tạng. Tuy ý nghĩa tuy chưa được tường tận, nhưng chắc quý vị cũng có thể hiểu được đại ý. Rất mong quý vị sẽ lưu truyền rộng rãi, chí tâm trì tụng kinh Địa Tạng, cùng nhau hưởng những phước duyên thù thắng.

       Trích lục từ: “Khuyên Hành Giả Tịnh Độ Kiêm Trì Tụng Kinh Địa Tạng, Hoằng Nhất đại sư giảng, Vương Mộng Tỉnh ghi chép, Thích Pháp Chánh biên dịch”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

7. HOẰNG NHẤT ĐẠI SƯ GIẢN LỢI ÍCH CỦA KINH ĐỊA TẠNG

       Trong sự linh cảm của các vị Bồ tát, sự linh cảm của Bồ tát Địa Tạng là nhiều nhất. Việc lợi ích của sự linh cảm, trong các kinh điển đề cập đến rất nhiều. Bây giờ tôi sẽ đem 28 điều lợi trong kinh Địa Tạng ra giải thích sơ lược. Đức Phật dạy: “Trong đời vị lai, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào thấy hình tượng Bồ tát Địa Tạng cùng nghe kinh này, nhẫn đến đọc tụng, dùng hương hoa, thức ăn, y phục, trân báu bố thí, cúng dường, ngợi khen, chiêm ngưỡng, lễ bái, thì người đó được 28 điều lợi ích:

1/ Trời, rồng thường hộ trì (lúc trước thì quỷ thần ác vây quanh).

2/ Quả lành ngày thêm lớn (quỷ thần ác vây quanh cho nên khởi niệm ác, làm việc ác, làm cho tăng trưởng quả ác, hiện nay không còn như vậy nữa).

3/ Tăng trưởng nhân lành Vô thượng (nếu làm thiện mà không phát nguyện hồi hướng Vô thượng Bồ đề, ắt sẽ thành phước báo trong hai cõi người trời, hiện nay thì không phải như vậy nữa).

4/ Không thoái đạo Bồ đề.

5/ Ăn mặc dồi dào đầy đủ.

6/ Không bị bệnh tật.

7/ Không bị nạn nước lửa.

8/ Không bị nạn trộm cướp.

9/ Mọi người đều kính trọng.

10/ Quỷ thần hộ vệ giúp đỡ.

11/ Chuyển thân nữ thành nam (hoặc đời này, hoặc đời sau).

12/ Làm con gái vua chúa, quý tộc.

13/ Thân tướng xinh đẹp.

14/ Thường sanh cõi trời.

15/ Thường sanh làm vua chúa.

16/ Có túc mạng thông.

17/ Mọi sự mong cầu đều toại ý.

18/ Quyến thuộc vui vầy.

19/ Tránh mọi tai ương.

20/ Không đọa ác đạo.

21/ Đến đâu cũng không bị trở ngại.

22/ Chiêm bao an ổn.

23/ Tổ tiên được xa lìa sự khổ.

24/ Sanh vào chỗ an lạc (Chưa phát nguyện cầu sinh Tây Phương, như phần trước có nói sẽ sinh lên cõi trời, hoặc sinh làm vua, làm quan lớn, vương phi v.v…, nay thì không phải như vậy).

25/ Chư Thánh hiền khen ngợi.

26/ Thông minh lanh lợi.

27/ Giàu lòng từ mẫn.

28/ Rốt ráo thành Phật”.

Phần trên tôi vừa đề cập chỉ có 28 điều lợi ích, nhưng trên thực tế sự lợi ích là nhiều vô lượng vô biên, 28 điều này là những sự lợi ích to lớn nhất, vả lại đây là những điều mà người bình thường có thể hiểu được dễ dàng, nêu lên để cho mọi người sanh tâm tín ngưỡng. Hơn nữa, cũng phải nên biết rằng những điều lợi ích vừa nói đó là hoàn toàn chân thật, không hề hư dối. Còn nếu như chúng ta lễ kính cúng dường Bồ tát Địa Tạng mà chưa hưởng được những sự lợi ích như vừa nói đó thì đó chỉ là vì tâm thành kính của chúng ta chưa đến được rốt ráo mà thôi. Giả như chúng ta hết lòng thành kính lễ bái cúng dường Bồ tát Địa Tạng thì nhất định sẽ được những sự lợi ích như đã nêu ở trên. Riêng điều lợi ích thứ 8: Không bị nạn trộm cướp, tám năm về trước tôi đã từng tự thân kinh nghiệm, hôm nay tôi nguyện vì quý vị mà thuật lại sơ lược.

       Lúc tôi chưa xuất gia, trong phòng có thờ Thánh tượng của Bồ tát Địa Tạng, mỗi ngày tôi đều thắp đèn đốt hương, thành kính cúng dường. Sau khi xuất gia, dù ở bất cứ nơi nào tôi cũng đều cúng dường phụng sự Bồ tát Địa Tạng. Khoảng hơn bảy năm về trước, tôi đang kiết hạ an cư tại một chùa làng nhỏ ở Hàng Châu. Trong chùa phòng chánh có ba gian, mỗi gian chia làm hai, tổng cộng có sáu phòng, phía trên là lầu, chứa đựng vật dụng, không có người ở. Dưới lầu, gian giữa, phía trước là Chánh điện, phía sau là phòng khách, gian trước hai phòng đều là nơi tôi ở, còn gian sau hai phòng đều là do vị Trụ trì ở, cầu thang lên lầu là ở trong phòng Trụ trì. Dạo đó, thầy Trụ trì đang bị bệnh nặng, nằm mãi ở trên giường không dậy nổi. Trong chùa còn có hai vị xuất gia và một vị tại gia, ở trong các thất nhỏ ở phía trước phòng khách. Cổng lớn phía trước chùa thì luôn luôn khóa chặt, muốn ra vào đều phải dùng cửa sau của phòng khách.

       Một hôm có một vị khách đến, thấy góc tường bên ngoài có một tảng đá lớn bèn nói với tôi:

       – Đây chắc là bọn cướp muốn vào nhưng chưa được.

       Tôi nghe nói như thế, bèn để tâm chú ý, nhân đó đem tất cả vật dụng trên lầu dời vào phòng mình, lại đi tìm then gài của các cửa sổ. Sau khi khóa chặt các cửa sổ, tôi bèn đem các then gài còn lại giao lại cho hai vị xuất gia, bảo họ cài chặt các cửa sổ và phải lưu tâm chú ý, nhưng bọn họ không tin, đem mấy cái then gài cất đi. Đêm đó, tôi theo thường lệ trì tụng kinh Địa Tạng và niệm danh hiệu ngài Địa Tạng, trong lòng cảm thấy rất an tĩnh, sau đó tôi ngủ rất ngon giấc. Đến nửa đêm nghe trên lầu có tiếng chân người, lại nghe tiếng nói của thầy Trụ trì. Tôi cho rằng Thầy trụ trì cho người dìu lên lầu, kiểm soát các cửa sổ, đề phòng kẻ trộm.

       Không bao lâu sau, tôi lại ngủ thiếp đi. Sáng hôm sau, sau khi tỉnh giấc tôi bèn ra mở cửa thì thấy trong phòng khách đồ đạc bừa bãi, ngổn ngang trên mặt đất. Mọi người bèn nói với tôi:

       – Thầy còn chưa biết việc gì xảy ra sao? Thầy thật là có phước!

       Kế đến họ kể cho tôi nghe: Tối hôm qua có mấy tên cướp, cầm dao gậy leo lên tường mà xông vào. Trước tiên bọn chúng đi vào mấy phòng nhỏ, tốc mấy người xuất gia tại gia thức dậy, cướp đoạt tiền bạc ở trong phòng cùng một bộ đồ của người tại gia. Sau đó, chúng dùng dao cưỡng bức bọn họ đi đến phòng thầy Trụ trì, khiến bọn họ bất đắc dĩ phải dẫn bọn chúng đến gặp thầy ấy. Bọn chúng bèn bức ép thầy Trụ trì phải dẫn chúng lên lầu mở rương, tịch thâu hơn hai trăm quan tiền, lại còn lục lọi, kiểm điểm tất cả đồ vật trên lầu. Sau khi lục lọi khắp nơi, chỉ có phòng tôi là chưa kiểm soát, bọn chúng bèn dùng dao nạy cửa, sau đó dùng gậy để dộng vào. Trải qua hơn một tiếng đồng hồ mà vẫn không thể mở được, bọn cướp nạy cửa phòng sau, tôi ở phòng trước nên không nghe thấy tiếng; phòng trước còn có hai cái cửa thông với Chánh điện, nhưng bọn chúng không biết. Sau đó bọn chúng muốn leo cửa sổ vào, nhưng vì phía bên trong đã khóa chặt nên không thể mở được, chúng bèn đập cửa kiếng, nhưng kiếng lại không bễ. Bọn chúng làm cách nào cũng không thể vào phòng của tôi được, loay hoay đến gần sáng thì bèn phải vội vã rút lui.

       Câu chuyện nêu trên là do hai vị xuất gia, tại gia kể lại cho tôi nghe về tình hình lúc bấy giờ. Đây là một sự thật mà tôi đã kinh nghiệm được, đó là điều lợi ích thứ 8 (không bị nạn trộm cướp) trong 28 điều lợi ích. Các vị, nếu như chúng ta từ hôm nay trở đi có thể phát tâm chí thành tha thiết, lễ kính cúng dường Bồ tát Địa Tạng thì ắt là sẽ được toàn thể lợi ích của cả 28 điều lợi ích, quyết không còn có chút nghi ngờ nào cả. Đây là điều mà tôi tha thiết kính chúc quý vị!

       Trích lục từ: “Khuyên Hành Giả Tịnh Độ Kiêm Trì Tụng Kinh Địa Tạng, Hoằng Nhất đại sư thuật, Thích Pháp Chánh biên dịch”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

8. PHỤ ĐÍNH SỰ TÍCH BÀI KỆ PHÁ ĐỊA NGỤC

Trong Hoa Nghiêm Kinh Truyện Ký của Quốc sư Hiền Thủ đời Ðường có tường thuật sự linh cảm của Ðịa Tạng Bồ tát, xin lược kể như sau:

Năm Văn Minh nguyên niên (684 – Ðường Dung Tông), có một người họ Vương đất kinh sư, không có giới hạnh, cũng không biết tu thiện, nhân vì đau bệnh mà chết. Sau khi chết, có hai người đến dẫn ông đi đến trước cửa của địa ngục, nhìn thấy một vị Tăng mà bọn họ xưng là Địa Tạng Bồ tát dạy cho tụng một bài kệ rằng:

Nhược nhân dục liễu tri,

Tam thế nhất thiết Phật

Ưng quán pháp giới tánh,

Nhất thiết duy tâm tạo.

(Nếu ai muốn biết rõ,

Tam thế hết thảy Phật,

Hãy quán tánh pháp giới,

Hết thảy do tâm tạo.)

Bồ tát dạy kinh văn xong rồi dặn bảo: “Tụng được bài kệ này thì có thể mở toang được địa ngục”. Họ Vương y theo lời học thuộc lòng xong, sau đó bị dẫn đến chỗ của Diêm La Vương.

Vua Diêm La hỏi: Bình sanh ngươi có tu công đức gì chăng?

Họ Vương đáp: Tôi chỉ thọ trì một bài kệ.

Vua bảo: Ngươi hãy đọc thử xem?

Họ Vương vâng lời, liền to tiếng mà đọc tụng bài kệ bốn câu như ở trên đã kể.

Vua Diêm La nghe thấy rồi liền cho người thả ông trở về. Trong lúc người họ Vương tụng kệ, tiếng tụng vang đến đâu thì những người thọ khổ ở nơi đó đều được giải thoát.

Họ Vương ba ngày sau tỉnh lại, nhớ kỹ bài kệ ấy, đến kể lại cho pháp sư Tăng Ðịnh và các vị Sa môn ở chùa Không Quán nghe. Sau khi các vị Sa môn khảo nghiệm kệ văn, mới hay đó chính là bài kệ nằm trong phẩm Dạ Ma Thiên Cung Vô Lượng Chư Bồ Tát Vân Tập Thuyết Pháp thuộc quyển thứ 12 của kinh Hoa Nghiêm bản dịch đời Tấn[28].

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Thánh Ðức Ðại Quan, Hoằng Nhất đại sư biên thuật, Như Hòa chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

PHẦN II: TRÍCH LỤC KHAI THỊ CỦA HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG

 

1. QUY CỦ CỦA ĐẠO TRÀNG TỊNH TÔNG HỌC HỘI

Chư vị đồng học! Trong những năm qua, khi đạo tràng vừa xây dựng xong, bộ kinh đầu tiên tôi giảng nhất định sẽ là Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh. Tại sao phải giảng bộ kinh này? Xây dựng Phật pháp chẳng thể xa lìa cơ sở vật chất, dùng cách nói hiện nay thì nhất định phải có đất đai, phải có phòng ốc, phải có kiến trúc, có cơ sở xong thì chúng ta mới có nơi chốn để tu đạo. Nhưng tu đạo phải y cứ vào những gì? Chúng ta phải biết: Tu đạo nhất định phải y cứ vào tâm địa, kinh Ðịa Tạng chính là khóa học đầu tiên của chúng ta. Có cơ sở vật chất rồi, cơ sở tinh thần quan trọng nhất là Tâm địa pháp môn. Thế nên bộ kinh đầu tiên chúng ta nhất định phải giảng là Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh để làm cơ sở cho sự tu học Ðại thừa.

Nếu chẳng hiểu Tâm địa pháp môn, không biết phải bắt đầu tu từ tâm địa thì sự tu học nhất định sẽ chẳng thành công. Nói cách khác, bất luận bạn có dụng công, có nỗ lực như thế nào, có phấn đấu mạnh mẽ, có tinh tấn như thế nào đi nữa thì bạn cũng vẫn y như cũ, chẳng thể thoát khỏi lục đạo luân hồi được, những gì bạn tu cũng chỉ là phước báo hữu lậu mà thôi. Sự tiêu biểu của pháp Ðại thừa ở Trung Quốc là dùng Tứ Đại Bồ tát, vị thứ nhất chính là Ðịa Tạng Bồ tát. Từ Ðịa Tạng Bồ tát phát triển rộng ra là Quán Thế Âm Bồ tát, Quán Âm tiêu biểu Đại từ Đại bi. Ðịa Tạng tiêu biểu Hiếu kính[29].

Ngày nay tại sao Phật pháp lại suy thoái đến như vậy? Tại sao người tu hành chẳng thể thành tựu rạng rỡ như người đời xưa? Vì mọi người đều quên mất cội gốc, chẳng hiếu, chẳng kính. Lúc trước thầy Lý[30] thường gọi cách tu học này là giỡn chơi với Phật pháp, họ chẳng tu học Phật pháp, cũng chẳng phải hoằng dương Phật pháp, mà là giỡn chơi với Phật pháp, tiêu khiển Phật pháp, chẳng có gì làm nên phải tiêu khiển giải trí, lấy Phật pháp để tiêu khiển! Ðích thật là như vậy, lời thầy Lý chẳng quá đáng tí nào! Chúng ta hãy suy nghĩ có phải chính mình cũng đang tiêu khiển Phật pháp hay chăng? Có đang giỡn chơi với Phật pháp hay không? Chỉ tu một chút phước hữu lậu mà thôi! Vả nữa, chút phước này sẽ chẳng thể hưởng ở nhân gian, mà hưởng ở đâu? Hưởng ở cõi súc sanh, cõi ngạ quỷ. Tại sao không thể hưởng ở cõi người? Tư cách làm người của bạn mất rồi nên những phước đã tu được chẳng thể hưởng ở cõi người, chúng ta phải hiểu rõ ràng.

Làm người thì phải biết “Hiếu thân tôn sư”, phước thứ nhất của Tam phước nói trong Quán kinh[31] là: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết hại, tu Thập thiện nghiệp”, được vậy thì bạn mới được thân người, những phước báo bạn tu được mới có thể hưởng ở cõi người, cõi trời. Nếu chẳng làm nổi bốn điều này thì phước bạn tu được nhất định sẽ hưởng nơi ác đạo, ác đạo cũng có phước báo rất lớn. Những lý và sự này chúng ta đều hiểu rõ, nhưng chúng ta chẳng thể chuyển đổi trở lại, nói cách khác thì đã hiểu rõ nhưng làm không nổi. Tại sao làm không nổi? Nói thật ra là vì chẳng thấu triệt những sự lý này. Nếu thật sự thấu triệt thì có thể sám trừ nghiệp chướng, quay đầu là bến bờ. Thế nên khi đạo tràng mới thành lập, kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện nhất định không thể thiếu, nhất định phải giảng kinh này.

Chư vị đồng tu đến đây tham học, hôm nay chúng tôi sắp khóa học này vào khóa trình chủ yếu, thời gian tuy không nhiều nhưng chúng tôi nhất định phải giảng tường tận những điểm chính yếu. Ngoài ra, những phần cổ đức đã chú giải tường tận, pháp sư Thánh Nhất đã giảng giải bằng ngôn ngữ thông tục, quý vị có thể dùng đó làm tham khảo. Tương lai quý vị hoằng dương Phật pháp trong nước và ngoài nước, mỗi khi đến một đạo tràng mới thành lập trước hết nên giảng kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện, sau đó mới giảng kinh Vô Lượng Thọ, khuyên họ niệm Phật vãng sanh, đây là quy củ nhất định.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 01, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

2. CHUYÊN HOẰNG TỊNH ĐỘ SAO LẠI GIẢNG KINH ĐỊA TẠNG?

       Có một năm tôi giảng đại ý kinh Địa Tạng tại các thành phố miền đông nước Mỹ, từ Washington DC cho đến miền nam Florida, có một vị đồng tu hỏi tôi:

       “Thưa pháp sư! Không phải là thầy chỉ giảng kinh Tịnh độ thôi sao? Tại sao thầy lại giảng kinh Địa Tạng? Có phải thầy đã xen tạp rồi hay không?”.

Tôi nói: “Không có! Tôi cũng đang giảng kinh Vô Lượng Thọ, giảng pháp môn Tịnh độ đấy chứ!”.

Ông ấy nói: “Làm sao kinh Địa Tạng là pháp môn Tịnh độ cho được?”.

Tôi nói: “Pháp môn Tịnh độ được xây dựng trên nền tảng của Tam phước, ông có thừa nhận hay không?”.

Ông ấy nói: “Thừa nhận”.

Tôi nói: “Tam phước là lời dạy trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, câu đầu tiên trong Tam phước là: “Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu Thập thiện nghiệp”, có đúng không?”.

Ông nói: “Đúng!”.

Tôi nói: “Kinh Địa Tạng là giảng bốn câu này, bộ kinh này chính là chú giải cho bốn câu đó”.

Nghe xong ông mới hiểu, ông mới chịu đồng ý, mỗi lời tôi nói đều là sự thật. Cho nên chúng tôi giảng bộ kinh này là pháp căn bản của Tịnh độ, mười sáu chữ trong kinh Tịnh độ được bao gồm trong bộ kinh này, bộ kinh này là nói về mười sáu chữ này. Nếu bạn không hiểu kinh Địa Tạng thì bạn không hiểu phước thứ nhất trong Tam phước, bạn cũng chẳng biết cách phải tu làm sao. Mười sáu chữ này, nếu chúng ta giảng tường tận cũng phải mất đến nửa năm, như vậy mới hiểu được rõ ràng minh bạch, bước chân tu hành của chúng ta mới đứng vững, công phu mới đắc lực. Hiện nay chúng ta tu học công phu không đắc lực, đều là do nền tảng không vững, đây là nguyên nhân chính. Thế nên tôi giảng kinh Địa Tạng chính là giảng kinh Tịnh độ, là giảng kinh Vãng Sanh[32], tôi chẳng hề rời khỏi Tịnh Tông, chẳng hề rời khỏi A Di Đà Phật.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 25, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ” và “Địa Tạng Kinh Huyền Nghĩa Tập 05, HT. Tịnh Không chủ giảng, Hạnh Chơn chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

3. MƯỜI PHƯƠNG BA ĐỜI TẤT CẢ CHƯ PHẬT TÁN THÁN

Trong kệ tụng thứ 8[33], thế giới Cực Lạc là bổn nguyện của A Di Đà Phật cảm ứng hiện tiền. Thành tựu một cõi Tịnh này, tác dụng của nó chính là phải độ tận chúng sanh. Bạn xem, cái nguyện lực này vĩ đại đến như vậy, cho nên được chư Phật tán thán. Ở trong tất cả kinh, có kinh Đại thừa được một vị Phật, hai vị Phật, ba bốn năm vị Phật tán thán, nhưng được mười phương ba đời tất cả chư Phật tán thán thì chưa thấy qua. Chỉ có hai bộ kinh được tất cả chư Phật đồng tán thán, một bộ là kinh này[34] và một bộ là Địa Tạng Bồ tát Bổn Nguyện kinh, hai bộ kinh này là được tất cả chư Phật tán thán.

Chư Phật Như Lai tán thán A Di Đà Phật là tán thán cái gì? Tán thán nguyện lực hoằng thâm của ngài, hạnh nguyện không thể nghĩ bàn, ngài phát nguyện muốn độ hết thảy tất cả chúng sanh, cho nên chư Phật tán thán. Tại vì sao vậy? Chư Phật phát nguyện độ chúng sanh nhưng vẫn chưa phát nguyện được lớn đến như vậy. Ta muốn độ chúng sanh thế giới này, ta muốn độ chúng sanh đại thiên thế giới này, không hề nghĩ đến muốn độ tận hư không, khắp pháp giới tất cả chúng sanh. A Di Đà Phật nghĩ đến, đây là chỗ chư Phật Như Lai không thể không bội phục.

Chư Phật Như Lai tại vì sao tán thán Bồ tát Địa Tạng? Bồ tát Địa Tạng đại biểu Hiếu đạo. Hiếu đạo là đại căn đại bổn của chư Phật Bồ tát tu hành, không thể không tán thán. Mỗi một vị Phật Bồ tát đều là từ pháp môn này tu học thành tựu, cho nên mười phương ba đời tất cả chư Phật Như Lai đều là học trò của ngài Địa Tạng. Vì sao nói là học trò của ngài Địa Tạng? Đều là nói “Hiếu thân tôn sư”, là học trò trong cái pháp môn này. Địa Tạng biểu thị hiếu thân tôn sư, mỗi mỗi đều là từ pháp môn hiếu thân tôn sư này mà thành tựu, cho nên đây là pháp cơ bản trong pháp Bồ tát, xả bỏ căn bản thì không thể thành tựu. Tất cả chư Phật tán thán, đạo lý là như vậy.

Chúng ta tu học Đại thừa, tu học Tịnh độ, cầu nguyện vãng sanh, phải ghi nhớ điều kiện vãng sanh căn bản là Tam phước. Bạn phải nên biết Tín – Nguyện – Hạnh ba tư lương là được xây dựng trên nền tảng của Tam phước, không có Tam phước thì làm gì có ba tư lương?

 Điều thứ nhất trong Tam phước là: “Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu Thập thiện nghiệp”, bạn có làm được hay không? Việc này dễ làm hơn rất nhiều so với đoạn Kiến Tư phiền não[35]. Đoạn Kiến Tư phiền não không dễ dàng, quyết tâm phụng hành bốn câu này thì không khó. Tín – Nguyện – Hạnh của chúng ta từ ngay chỗ này mà xây dựng thì ngay trong một đời này mới có thể quyết định vãng sanh. Cho nên các vị nhất định phải ghi nhớ, không có một vị Phật Bồ tát nào mà không hiếu thuận cha mẹ, không có vị Phật Bồ tát nào mà không phụng sự sư trưởng. Chúng ta ngay một đời thành tựu, hai người này có ân đức rất lớn đối với chúng ta. Cho nên trong pháp Bồ tát dạy chúng ta “Tri ân báo ân”, Tri ân báo ân là ở trong kinh Đại Bát Nhã, Bồ tát Nhị địa[36] đã tu, đây là một trong tám khóa mục. Trong tri ân báo ân tinh yếu nhất chính là ân cha mẹ và ân sư trưởng, Phật Bồ tát là sư trưởng của chúng ta, cái ý nghĩa này rất sâu rất rộng, cho nên ngài mới phát nguyện độ tận chúng sanh.

Trích lục từ: “Kinh Vô Lượng Thọ Giảng Lần Thứ 10 Tập 86, HT. Tịnh Không chủ giảng, Vọng Tây cư sĩ cẩn dịch”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

4. CÔNG CỤ TƯƠNG ƯNG ĐỂ KHAI PHÁT TÁNH ĐỨC

Vì sao chúng ta nhất định phải cầu minh tâm kiến tánh? Không minh tâm kiến tánh có được hay không? Mục đích giáo học Phật pháp nhằm ngay chỗ này, tức là dạy chúng ta minh tâm kiến tánh, dạy chúng ta khai phát Tánh đức. Tánh đức là cái mà quý vị vốn sẵn có, vốn sẵn có thì lẽ nào không thể khai phát được? Mê nhiễm vốn là không, do vốn là không cho nên chắc chắn có thể lìa khỏi, đã vốn là có thì quyết định có thể đạt được.

Nhưng công cụ để khai phát ở trong các buổi giảng chúng tôi cũng thường hay nhắc tới đó chính là Hiếu kính, đây là công cụ để khai phát. Chẳng có hai chữ này, Tánh đức của quý vị sẽ vĩnh viễn không thể thấu lộ được. Do đó, tu học Phật pháp phải bắt đầu từ kinh Địa Tạng, Địa là đại địa, tức là tự tánh, Tạng là kho báu, tức là trí huệ và đức năng trong tự tánh, giống như đại địa ẩn tàng nhiều khoáng sản, chúng ta dùng phương pháp nào để khai thác? Công cụ chính là Hiếu kính! Kinh Địa Tạng là Hiếu kinh của nhà Phật, phải hiếu thảo với cha mẹ, tôn trọng thầy tổ thì Tánh đức mới có thể khai phát.

  Cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới cũng xếp hai chữ “Hiếu kính” lên hàng đầu. Trên kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật giảng về phương pháp, lý luận và nhân quả của việc tu Tịnh độ, giảng về ba chuyện này. Vừa mở đầu Tịnh nghiệp Tam phước đã liền dạy chúng ta: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu Thập thiện nghiệp”. Hiếu thân tôn sư được xếp lên hàng đầu, không đổ công sức từ ngay chỗ này thì làm sao có thể khai phát tự tánh cho được? Cũng có nghĩa là quý vị mong cầu nhất tâm bất loạn, mong cầu minh tâm kiến tánh mà chẳng đổ công sức vào nơi đây thì sẽ vĩnh viễn chẳng thể đạt được.

Trong quá khứ, có người hỏi pháp sư Ấn Quang, ở trong Văn Sao có ghi chép lời hỏi đáp này, người ấy hỏi: “Học Phật có bí quyết gì hay không, có thể dạy chúng con được hay không?” Ấn Quang đại sư nói: “Có!”. Đó là hai chữ “Thành kính”, “Một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích”. Quý vị không có thành kính thì bất cứ thứ gì cũng đều không thể đạt được. Ngài nói hai chữ thành kính này là “bí thược” (chìa khóa bí mật) để bước vào cửa Phật. Nếu quý vị thật sự làm được thì sẽ có được cái chìa khóa ấy.

Quý vị nhìn vào hiện thời, xem lại quá khứ, đọc lịch sử, có người nào thành tựu mà không tán thán thầy, không hoài niệm thầy? Thầy đã mất, người ấy vẫn tán thán, vẫn hoài niệm, ta có thể suy ra khi thầy còn sống sẽ có thái độ tôn kính, luyến mộ thầy như thế nào. Điều này có ý nghĩa rất sâu, hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng các bậc thầy tổ là cửa ngõ để nhập đức vậy.

Trích lục từ: “A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Quyển 5, HT. Tịnh Không chủ giảng, Như Hòa chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

5. BỐN VỊ ĐẠI BỒ TÁT CỦA PHẬT PHÁP ĐẠI THỪA

       Bốn vị Đại Bồ tát ở Trung quốc chính là bốn trụ cột lớn của Đại thừa. Thứ nhất là Bồ tát Địa Tạng, Địa Tạng tượng trưng điều gì? Địa là đại địa, tạng là bảo tạng, đại địa có thể sinh ra ngũ cốc lương thực, trong đất chứa đựng vô lượng trân bảo. Bảy báu đều lấy ra từ đất, nên đại địa chứa đựng bảo tạng. Đức Phật dùng điều này để tượng trưng tâm địa, trong tâm địa chứa đựng bảo tạng, vô lượng trí tuệ, vô lượng đức năng, vô lượng tướng hảo. Ba loại vô lượng này biến hiện khắp biến pháp giới hư không giới, vô lượng vô biên vô tận y chánh trang nghiêm cõi nước chư Phật, dùng tâm địa để hiển thị, gọi là Địa Tạng.

Dùng gì để khai phát bảo tạng? Bồ tát Địa Tạng có bốn chữ: Hiếu thân tôn sư. Cho nên kinh Địa Tạng được gọi là Hiếu kinh của Phật giáo. Chỉ có hiếu và kính, hiếu với cha mẹ, kính với thầy tổ mới có thể khai phát bảo tạng của tự tánh. Như đại sư Ấn Quang nói: “Một phần thành kính được một phần lợi ích, vạn phần thành kính được vạn phần lợi ích”. Nếu như không có tâm thành kính, chúng ta không thể nào lấy được bảo tạng. Không có trí tuệ chúng ta không thể nhận thức được nó, không có phương pháp chúng ta cũng không thể khai thác, chúng ta không đạt được lợi ích. Nên cần có trí tuệ, phương pháp khai thác là hiếu kính, Địa Tạng tượng trưng hiếu kính.

Từ hiếu kính tiếp tục nâng cao lên là Bồ tát Quán Thế Âm, từ bi vô tận, cứu khổ cứu nạn, dùng cái gì để cứu khổ cứu nạn? Dùng cách khai thác, từ trong tự tánh khai thác ra bảo tạng. Bảo tạng này chính là tất cả các kinh điển mà đức Thế Tôn đã giảng trong suốt bốn mươi chín năm. Những gì tất cả Chư Phật Như Lai biểu diễn cùng những gì mà các ngài đã nói đều là bảo tạng, dùng những điều này để cứu khổ cứu nạn.

Nếu chỉ có từ bi mà không có trí tuệ, các bậc Tổ sư đại đức có nói: “Từ bi nhiều tai họa, phương tiện sanh hạ lưu”[37]. Bồ tát Quán Thế Âm từ bi phương tiện, nếu không có trí tuệ thì liền xảy ra tác dụng phụ. Bởi thế vị thứ ba là Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, tượng trưng cho trí tuệ, khiến hiếu kính, từ bi đều đi trên đường chánh đạo, không để sanh ra tác dụng phụ.

Trí tuệ của Văn Thù, đại hạnh của Bồ tát Phổ Hiền, Bồ tát Phổ Hiền đem ba thứ ở trên: Hiếu kính của Bồ tát Địa Tạng, từ bi của Bồ tát Quán Âm, trí tuệ của Bồ tát Văn Thù thực hành trong cuộc sống, thực hành trong công việc, thực hành trong việc xử sự đối người tiếp vật hằng ngày, đây gọi là Phổ Hiền. Bồ tát Phổ Hiền là thực hành, thực hành ba thứ ở trước. Nếu như không thực hành ba thứ này thì chẳng phải toàn bộ đều là con số không ư? Thực hành cả ba thứ, như vậy mới thật sự có lợi ích.

Đây là bốn vị Đại Bồ tát của Đại thừa, bốn vị Đại Bồ tát là một thể không thể tách rời. Người bây giờ không biết, họ cho rằng chuyên lễ lạy Quán Thế Âm thì không lạy những vị Bồ tát khác, bởi vậy họ mê, họ không có trí tuệ, mê muội. Bốn vị Đại Bồ tát tượng trưng tu đức, Phật tượng trưng tánh đức, tánh tu không hai, tánh tu nhất như. Đạo lý này phải nói rõ ràng, sau đó tu học Đại thừa mới là viên tu viên giải viên chứng, quý vị đạt được mới là viên mãn.

Trích lục từ: “Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa Tập 595, HT. Tịnh Không chủ giảng, Hạnh Chơn chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

6. MỘT CHỮ HIẾU BAO TRỌN THẾ VÀ XUẤT THẾ GIAN PHÁP

Ðối với chúng sanh, mục tiêu chung cực của sự giúp đỡ chúng sanh, phần đông nói mục tiêu có ba thứ. Mục tiêu thấp nhất là giải quyết khó khăn trước mắt của chúng sanh, giúp họ đời này có thể sống cuộc đời hạnh phúc mỹ mãn, đây là mục tiêu gần, bậc thấp nhất. Mục tiêu tầng giữa là giúp cho họ đời sau vẫn còn được phước, không thể nói đời này hưởng phước, đời sau đọa Tam ác đạo[38], như vậy là rất đáng thương, rất sai lầm. Ðời này hưởng phước, đời sau tiếp tục vẫn phải hưởng phước, càng hy vọng đời sau phước báo lớn hơn đời này một chút, thù thắng hơn một chút, đây là mục tiêu tầng giữa.

Mục tiêu cao nhất của việc độ chúng sanh là giúp cho họ chứng được Vô thượng Bồ đề viên mãn, nói cách khác, giúp họ thành Phật, mục tiêu này mới thật sự đạt đến viên mãn. Phật, Bồ tát giáo hóa chúng sanh, tại sao đặc biệt tán thán pháp môn Tịnh độ, ba mục tiêu nói trên đều hàm nhiếp trong pháp môn Tịnh độ, thật ra phải nói đây là đại viên mãn. Thế nên hết thảy chư Phật tán thán A Di Ðà Phật, tôn ngài là: “Ánh sáng tôn quý nhất, vua trong các vị Phật”[39], tức là ngài giáo hóa chúng sanh, độ chúng sanh, ba mục tiêu đều viên mãn. Vả lại đích thật Tịnh Tông dạy người kiến lập trên cơ sở của Hiếu kính.

Tịnh nghiệp Tam phước dạy trong Quán kinh, vừa mở đầu liền dạy chúng ta: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng”. Người thời xưa hiểu được, cho nên làm cha mẹ dạy con cái thì việc nào quan trọng nhất? Tôn sư trọng đạo, chẳng dạy gì khác. Thầy giáo dạy học sinh bài học quan trọng nhất là hiếu thuận cha mẹ. Thế nên một đứa trẻ từ nhỏ tiếp thu sự giáo dục như vậy, tập từ nhỏ thì sẽ thành thói quen[40], tưới tẩm, dạy dỗ từ nhỏ, trong tâm địa của nó, trong A lại da thức của nó mọc gốc rễ vững chắc, vĩnh viễn chẳng thay đổi, nó có thể tận hiếu. Hiếu bao gồm hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian, ở đây chẳng thể nói kỹ. Ở nhà có thể hiếu cha mẹ, thương yêu anh em, đây là “Ðễ”, có thể báo ân quốc gia tức là “Trung”. Thế nên tám đức: “Hiếu, Ðễ, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ”, Hiếu là căn bản, bảy đức còn lại đều là Hiếu biểu hiện trên các sự tướng khác nhau rồi lập nên danh tướng, chứ thật ra cũng chỉ là một chữ Hiếu mà thôi.

Tam học, Tứ nhiếp, Lục độ[41] trong Phật pháp, vô lượng vô biên pháp môn cũng chỉ là một chữ “Hiếu”, chánh pháp thế gian và xuất thế gian nhất định được xây dựng trên cơ sở của Hiếu đạo. Khi xây dựng một đạo tràng, đại chúng cùng nhau tu tập, tại sao bộ kinh đầu tiên phải giảng là kinh Ðịa Tạng? Cơ sở vật chất của đạo tràng tức là phòng ốc, thiết bị đã xây xong, cơ sở vật chất xây xong thì phải xây cơ sở tinh thần, tức là xây dựng tâm lý. Tâm chánh thì hạnh chánh, sẽ tương ứng với đạo, tương ứng với tâm tánh, với chân tướng của vũ trụ nhân sanh.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 02, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

7. TẤT CẢ KINH ĐỀU LÀ CHÚ GIẢI CHO KINH ĐỊA TẠNG

       Hiện nay chúng sanh phiền não nặng, mất gốc, nhà Nho cũng hiểu: “Gốc được lập, đạo sẽ sanh”[42], quên mất bổn, như vậy làm sao được? “Bổn” là gì? – Ðịa Tạng Bổn Nguyện, bổn là: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng”, đó là bổn. Thế nên chúng ta phải đề xướng Hiếu đạo, phải đề xướng tri ân báo ân, chẳng phải chỉ nói nơi miệng mà thôi, chúng ta phải làm được. Quan hệ giữa người với người hiện đại chỉ nhìn thấy lợi hại, hôm nay đối với tôi có lợi thì chúng ta là bạn bè, tôi cung kính bạn, nịnh hót bạn, ngày mai hết lợi rồi thì biến thành người xa lạ, chẳng quen biết. Nếu có xung đột quyền lợi thì sẽ là người thù địch, đây là xã hội gì vậy? Nếu muốn xã hội này không loạn, không thể nào được!

       Ðề xướng Hiếu đạo, đề xướng kỷ niệm tổ tiên, hiện nay trong Phật môn còn làm, Thanh Minh cúng tổ tiên, Trung Nguyên, Ðông Chí cúng tổ tiên, một năm có ba ngày cúng tế tổ tiên, đề xướng Hiếu đạo. Cả đời tôi phước mỏng, đời trước chẳng tu phước, như nhà Phật nói “Tu huệ chẳng tu phước”, nhưng tôi cũng chưa đến nỗi “La hán trì bình bát trống không”, tôi chưa đến nỗi này, vẫn còn miễn cưỡng có thể duy trì no ấm. Nếu tôi có phước báo to lớn, nói cho chư vị biết tôi sẽ chẳng xây chùa chiền, tôi sẽ xây Từ Ðường đề xướng Hiếu đạo. Tôi nói lời này đã mấy chục năm, hy vọng xây Từ Ðường, xây Tông Từ trăm họ, mỗi năm vào ba ngày lễ này cử hành tế lễ long trọng, trong đó tuyên dương Hiếu thân. Hiện nay tế lễ hoàn toàn trở thành hình thức, rất đáng tiếc!

       Thí dụ như vào dịp Thanh Minh, Trung Nguyên, Ðông Chí chúng ta cúng tổ tiên, đáng lý phải kéo dài bảy ngày. Vài ngày đầu là để giảng giải Hiếu đạo, biểu dương Hiếu đạo, ngày cuối mới cử hành nghi lễ, như vậy mới có ý nghĩa. Nếu chỉ làm trên hình thức đầy đủ, còn Hiếu là gì? Ý nghĩa của Hiếu ở đâu? Không biết! Như vậy rất khó đạt được hiệu quả! Quốc gia chúng ta chọn ngày khánh đản của Khổng Tử làm lễ giáo sư, đây là để kỷ niệm thầy giáo, mỗi năm một ngày. Phàm là tế lễ đều phải bảy ngày, để nói rõ tại sao phải tu Hiếu đạo? Tại sao phải coi trọng Sư đạo? Nói rõ cho đại chúng biết thì buổi tế lễ này mới có ý nghĩa, mới chẳng đến nỗi chỉ là hình thức mà thôi. Cho đến những nghi thức bình thường trong nhà Phật chúng ta, thí dụ Tịnh Tông Học Hội thành lập xong, Quán Trưởng[43] đề xướng Tam Thời Hệ Niệm Phật Sự[44], nên chúng ta phải giảng kỹ về Tam Thời Hệ Niệm.

       Trước khi cử hành Tam Thời Hệ Niệm nhất định phải giảng rõ Tam Thời Hệ Niệm. Muốn lạy Lương Hoàng Sám nhất định phải giảng Lương Hoàng Sám rõ ràng từ đầu đến cuối, minh bạch, rõ ràng; sau đó khi mọi người bái sám thì cái tâm ấy mới tương ứng, mới có thể đạt được hiệu quả. Nếu đối với lý, sự, cảnh giới trong ấy cái gì cũng không biết, chỉ y theo mô thức ấy mà làm thì sẽ chẳng đạt được hiệu quả. Thế nên pháp sám hối này của người xưa đích thật là có công dụng chẳng thể nghĩ bàn; người hiện đại chúng ta tu pháp sám hối này chẳng được hiệu quả chính là vì lý do này. Nếu ai cũng hiểu rõ những lý luận, cảnh giới này thì không cần phải giảng giải, chỉ cần làm nghi thức này thôi cũng được! Người hiện đại ai nấy đều không biết, đối với những nghi thức này đều chẳng hiểu vì vậy nhất định phải lên lớp học trước.

       Pháp thế gian và xuất thế gian đều xây dựng trên cơ sở của Hiếu đạo, nhà Nho Trung Quốc dùng Hiếu đạo làm cơ sở, Lục kinh là cước chú của Hiếu kinh[45]. Cùng một đạo lý, Ðại thừa Phật pháp cũng được xây dựng trên cơ sở của Hiếu đạo, có thể nói hết thảy pháp của Thế Tôn giảng suốt bốn mươi chín năm đều là chú giải cho kinh Ðịa Tạng. Nếu chư vị thật sự có thể thâm nhập thì sẽ thể hội được ý nghĩa này.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 02, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

8. NHÂN DUYÊN ĐỨC PHẬT TUYÊN GIẢNG KINH ĐỊA TẠNG

       Xin mời xem kinh văn:

       Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại Ðao Lợi thiên, vị mẫu thuyết pháp.

       Tôi nghe như vầy, một thuở nọ đức Phật tại cung trời Ðao Lợi[46], vì mẹ thuyết pháp[47].

       Hôm nay Phật tại Ðao Lợi thiên, ở Ðao Lợi thiên làm gì vậy? – Vị mẫu thuyết pháp! Phải y theo cách nói trong kinh Tăng Nhất A Hàm, pháp hội kỳ này là do Ðế Thích Thiên vương, tức là Ðao Lợi thiên chủ khải thỉnh. Ðao Lợi thiên chủ rất thông minh, rất có trí huệ, ngài nói quá khứ hết thảy chư Phật đều đã đến Ðao Lợi thiên thuyết pháp cho mẹ, báo ân sanh dưỡng của mẹ, Thế Tôn thành Phật rồi, đương nhiên cũng chẳng ngoại lệ. Thế Tôn nhận lời mời của Ðao Lợi thiên chủ, đến Ðao Lợi thiên mở ra pháp hội này. Nhân duyên này rất sâu, câu chuyện cũng rất dài, kể chuyện thì sẽ ngưng trệ việc giảng kinh, cho nên chúng ta lược bớt câu chuyện này, nhưng cũng không thể không biết.

       Mẫu thân của Phật là Ma Gia phu nhân, nói thật ra cũng là đại quyền thị hiện, đều là Phật, Bồ tát tái lai[48]. Mỗi người lúc tu nhân, phát nguyện chẳng giống nhau, ngài phát nguyện đời đời kiếp kiếp làm người nữ để làm mẹ của Phật, ngài phát nguyện này. Thế nên con của ngài là Phật, phước báo của mẹ sẽ rất lớn, đây là biểu diễn cho chúng ta xem. Phước báo lớn nhất, hoàn toàn dựa vào phước thì chỉ có thể sanh đến cõi trời Ðao Lợi, từ trời Dạ Ma trở lên thì không thể. Chư vị xem trong nhà Phật nói đến Phật sự siêu độ Lương Hoàng Sám vô cùng thù thắng. Lương Hoàng tức là Lương Võ Ðế, Lương Võ Ðế khải thỉnh Bảo Chí Công làm Phật sự siêu độ cho phu nhân cho nên gọi là Lương Hoàng Sám. Lúc phi tử của vua còn sống, bà tạo nhiều ác nghiệp nên đọa vào ác đạo. Bảo Chí Công là một cao tăng đắc đạo, Bảo Chí Công là ai? Là Quán Thế Âm Bồ tát hóa thân đến, bạn xem như vậy còn nói gì nữa? Quán Thế Âm Bồ tát đích thân đến chủ trì pháp hội này, chủ trì pháp sự siêu độ này, cũng chỉ có thể siêu độ phi tử của vua đến cõi trời Ðao Lợi.

       Chư vị phải biết, chư Phật Như Lai siêu độ thì chỉ siêu độ đến trời Ðao Lợi, muốn lên trên nữa thì tự mình phải có công phu tu hành, nếu chẳng có công phu tu hành thì không được! Thế nên hiểu được chân tướng sự thật này, thời gian chúng ta còn sống phải hết lòng tu hành, nếu chẳng tu hành mà chỉ nhờ người khác siêu độ, bản lĩnh có cao tới đâu thì chỉ có thể đến trời Ðao Lợi mà thôi. Nếu siêu độ Phật sự là do phàm phu chủ trì thì hiệu quả sẽ rất yếu ớt, chỉ có thể nói là làm vẫn tốt hơn không làm, có hiệu quả gì rất khó nói. Ngày nay bạn đi đâu tìm được cao tăng chân chánh đắc đạo, Phật Bồ tát hay người tái lai? Thế nên phải hiểu đạo lý này rồi sau đó tự chúng ta mới thật sự nắm chắc lấy thời gian, một tấc quang âm là một tấc mạng quang, phải hết lòng nỗ lực.

       Phước báo lớn như người mẹ của Phật thì cũng chỉ sanh đến trời Ðao Lợi. Lên trên nữa cần phải có công phu định lực, cần có tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh thành tựu công đức chân thật. Công đức ít, kém cỏi, chưa đoạn dục, chưa đoạn tâm niệm ham muốn thì sanh đến tầng trời thứ tư của cõi Dục giới, nhà Phật gọi là “Vị đáo định”, bạn tu định chưa đủ trình độ nhưng cũng có tu. Thí dụ Tứ thiền, cõi Tứ thiền cần công phu thiền định một trăm điểm thì mới đến Tứ thiền; cõi Tam thiền cần chín chục điểm, Nhị thiền cần tám chục điểm, Sơ thiền cần bảy chục điểm. Nếu công phu của bạn dưới sáu chục điểm thì chẳng đến Sắc giới nổi. Nhưng bạn cũng có công phu, công phu thiền định của bạn có khoảng sáu mươi điểm, năm mươi điểm, bốn mươi điểm, bạn cũng có công phu, chẳng phải là không điểm.

       Nếu bạn chẳng tu, chỉ chuyên tu phước, tu Thập thiện nghiệp đạo, tu bố thí, trì giới, chẳng có công phu định lực, chẳng xả bỏ tâm niệm tình dục, thì chỗ bạn sanh đến sẽ là Tứ Vương thiên và Ðao Lợi thiên. Có một chút công phu định lực, tâm địa có một ít thanh tịnh mới có thể sanh đến cõi trời Dạ Ma, Ðâu Suất, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại. Càng lên trên thì phước báo của mỗi tầng càng lớn hơn, thọ mạng càng dài hơn, chân chánh là hưởng phước vô tận. Nhưng thọ mạng có dài hơn thì cũng có lúc hết quả báo, tức là có lúc sẽ hưởng hết; sau khi hưởng hết thì cũng phải lưu chuyển theo nghiệp. Thế nên sanh lên trời chẳng phải là pháp cứu cánh, chẳng bằng niệm Phật cầu sanh Cực Lạc thế giới, sanh đến Cực Lạc thế giới là vô lượng thọ, nói cách khác vĩnh viễn chẳng sanh, chẳng tử. Không những trời Dục giới chẳng sánh bằng, trời Sắc giới, Vô sắc giới[49] đều chẳng thể sánh bằng. Thế nên hết thảy chư Phật tán thán A Di Ðà Phật, tán thán Cực Lạc thế giới, đạo lý là ở chỗ này.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 03, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

  

9. HIẾU ĐẠO BẮT ĐẦU TỪ CHỖ ĐỘ MẪU THÂN

Chỗ đặc biệt thù thắng của Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh là Hiếu đạo bắt đầu làm từ chỗ độ mẫu thân. Trong thế gian người thân mật nhất là mẹ, người cha còn kém một chút, một đứa bé ra đời từng giờ từng phút không rời lòng mẹ. Trong kinh này chúng ta thấy Ðịa Tạng Bồ tát, Ðịa Tạng Bồ tát tức là người tu học pháp môn Ðịa Tạng này, Ðịa Tạng Bồ tát chẳng phải chỉ có một vị mà thôi. Phàm những ai tu học Hiếu thân tôn sư đều là Ðịa Tạng Bồ tát, phàm những ai tu học Từ bi cứu độ hết thảy chúng sanh khổ nạn đều là Quán Thế Âm Bồ tát, chúng ta phải hiểu ý nghĩa này. Chúng ta phải một đời đầy đủ hết thảy hạnh Bồ tát thì mới viên thành Phật đạo, đây tức là ý nghĩa chân chánh của pháp môn vô lượng thệ nguyện học.

Chúng ta phải học sự “Hiếu kính” của Ðịa Tạng, học “Từ bi” của Quán Âm, học “Trí huệ” của Văn Thù, ngày nay chúng ta nói đến lý trí, phải học “Lạc thực” (biến thành hiện thực) của Phổ Hiền Bồ tát, đây không phải là một thân đầy đủ bốn Đại Bồ tát ư? Tứ Ðại Bồ tát nếu phân tích kỹ nữa tức là vô lượng vô biên hết thảy Bồ tát, đây tức là pháp môn vô lượng thệ nguyện học. Từ chỗ này chư vị chắc cũng thể hội được kinh Hoa Nghiêm, kinh điển Tịnh Tông hay nói một tức là hết thảy, một pháp môn nhất định hàm nhiếp hết thảy pháp môn. Ðịa Tạng hiếu kính, trong hiếu kính đương nhiên có từ bi, trong hiếu kính có lý trí, hiếu kính lạc thực, một Ðịa Tạng tức là đầy đủ Quán Âm, Văn Thù, Phổ Hiền, không phải đều đầy đủ hết ư? Phổ Hiền Bồ tát thực tiễn, trong thực tiễn nhất định phải có hiếu hạnh, nhất định phải có từ bi, nhất định có trí huệ, có phải là một Bồ tát đầy đủ hết thảy Bồ tát chăng?

Thế nên mới nói một là hết thảy, hết thảy là một, pháp pháp viên dung, pháp pháp vô ngại, như vậy bạn mới biết Phật pháp thật chẳng thể nghĩ bàn. Thế nên chúng ta ở đây thấy ngài vì mẫu thân phát tâm, việc này thân thiết hơn bất cứ việc gì khác. Dạy cho chúng ta làm sao sanh khởi tâm hiếu thuận? Ðộ mẹ! Mẹ đối với chúng ta có ân đức lớn lao như vậy, bất luận chúng ta ở phương diện nào, ở lúc nào, niệm niệm chẳng quên. Niệm niệm chẳng quên trong tâm vì muốn báo ân mẹ không những chúng ta không thể làm việc sai quấy, ngay cả một tâm niệm ác cũng chẳng thể sanh lên, tại sao vậy? Có lỗi với mẹ, đó chẳng phải là kỳ vọng của mẹ đối với con. Mỗi năm cử hành một buổi tế lễ, đó là đề xướng Hiếu đạo, phát triển Hiếu đạo, dụng ý là ở chỗ này, là để làm lợi lạc cho người khác. Niệm niệm đều đoạn ác, niệm niệm đều tu thiện, đây là vì cái tâm hiếu đối với mẹ ràng buộc chúng ta nhất định phải làm như vậy. Bạn xem sức mạnh của chữ Hiếu này bao lớn? Thúc đẩy chúng ta trên đường Bồ đề luôn luôn tinh tấn, chẳng giải đãi.

Từ chỗ hiếu đối với mẹ liên tưởng đến vị thầy dạy dỗ chúng ta, chẳng có thầy thì làm sao chúng ta hiểu được Hiếu đạo, thế nên ân đức của thầy giáo chẳng thể quên. Cụ Phác viết bốn chữ “Tri ân báo ân”, Thế Tôn nói bốn chữ này trong kinh Ðại Bát Nhã, là pháp môn tu học của Nhị địa Bồ tát. Trong kinh Ðại Bát Nhã, Nhị địa Bồ tát có tám khoa mục tu học chính, Tri ân báo ân là một trong tám khoa mục này. Trong thời đại ngày nay đặc biệt đáng được đề xướng, xã hội hiện nay người vong ân bội nghĩa rất nhiều, vong ân bội nghĩa là tội hạnh, là lỗi lầm, khổ báo; tri ân báo ân là chánh hạnh, Bồ tát hạnh, quả báo là lạc báo (quả báo vui sướng), chẳng giống nhau. Ngày nay xã hội đại chúng phạm những lỗi lầm gì, chúng ta phải nhận biết những lỗi này để tìm cách chỉ dạy, giúp đỡ họ, như vậy mới đúng.

Vì mẹ mà phát nguyện, như vậy rất thân thiết, cách giáo học này làm cho chúng ta thể hội được trí huệ cao độ của Thế Tôn, viên mãn trí huệ, thiện xảo phương tiện đạt đến mức cùng cực, làm cho chúng ta nghe đến, tiếp xúc đến, chẳng thể chẳng tin, không thể không học. Hết thảy những thiện pháp, những thiện hạnh đều từ hiếu thuận mẫu thân, cứu độ mẫu thân mà nảy sanh, đây thật là căn bản. Chánh hạnh của chúng ta trên đường Bồ đề, thành tựu càng thù thắng thì sự hiếu kính mẫu thân càng viên mãn. Thế nên tôi thường nói chỉ có một người đạt đến mức Hiếu đạo viên mãn, thành Phật, Phật quả trong Viên giáo, đạt đến cứu cánh viên mãn. Ðẳng Giác Bồ tát[50] còn một phẩm sanh tướng vô minh chưa phá, Hiếu đạo còn khiếm khuyết một phần.

Tại sao chúng ta phát tâm độ chúng sanh? Tại sao phát tâm đoạn phiền não? Tại sao phát tâm học pháp môn, thành Phật đạo? Vì báo ân mẹ! Nếu chúng ta chẳng làm vậy thì có lỗi đối với cha mẹ, đặc biệt là đối với mẹ. Chánh giáo đại pháp của Như Lai kiến lập trên cơ sở này, thế nên Tứ hoằng thệ nguyện[51] là nguyện chung, bổn nguyện của hết thảy chư Phật Như Lai. Ðịa Tạng Bồ tát đặc biệt dùng “bi tâm vô cùng” hướng về khổ nạn chúng sanh, chúng sanh chịu khổ nạn càng nhiều, thì bi tâm của Bồ tát càng nặng, thế nên trong kinh xưng ngài là “Vĩnh viễn làm U Minh giáo chủ”. U Minh là địa ngục, thệ nguyện của Bồ tát: “Ðịa ngục chưa trống không, thề chẳng thành Phật”, bi tâm đạt đến cùng cực. Chỗ khổ nạn ở Ðịa ngục này, những người thông thường chẳng chịu đến, người ta không chịu đến nhưng ngài đến, người khác chẳng chịu thọ nhận khổ nạn nhưng ngài chịu nhận.

Vào địa ngục thì trước hết phải hiện thân đồng loại với họ, nếu chẳng hiện thân đồng loại thì làm sao có thể dạy dỗ chúng sanh! Phải tu hạnh đồng loại, chúng sanh trong địa ngục chịu những sự khổ đó, Bồ tát trong đó cũng phải thị hiện chịu đựng những sự khổ ấy, chẳng được đặc thù, chẳng thể ngoại lệ, như vậy mới có thể cảm hóa chúng sanh trong địa ngục để họ có thể giác ngộ, sám hối, quay về. Thế nên nhẫn chịu khổ, chịu nạn, đại từ đại bi, đây là bổn nguyện của Ðịa Tạng Bồ tát, người tu học Ðại thừa sơ phát tâm như chúng ta phải học Ðịa Tạng Bồ tát. Hôm qua tôi nhắc chư vị chữ U Minh còn có một nghĩa khác là hạ mình thấp xuống, vĩnh viễn ở vị trí thấp hơn người khác, hết lòng nỗ lực tu học giáo hóa chúng sanh, danh văn lợi dưỡng hết thảy hưởng thọ đều dâng hiến cho người khác, tự mình vĩnh viễn ở nơi thấp kém, đây là ý nghĩa của U Minh.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 02, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

10. HOẰNG DƯƠNG PHẬT PHÁP PHẢI CHÚ TRỌNG HIẾU ĐẠO

Nhân duyên mà đức Phật lên cung trời Đao Lợi tuyên giảng kinh Địa Tạng chính là để độ mẫu thân, tri ân báo ân. Chúng ta biết được Phật pháp là Sư đạo, Sư đạo kiến lập trên cơ sở Hiếu đạo. Sư đạo là dạy học, là giáo dục, dạy những gì? Chính là dạy Hiếu! Sở hành của Phật Bồ tát, hành gì vậy? Hành Hiếu! Nói thật ra thì Phật pháp triệt thỉ triệt chung chính là một chữ Hiếu mà thôi, điều này chúng ta phải nhận thức cho rõ ràng.

Đức Thế Tôn trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật hướng dẫn cho chúng ta căn bản tu học là Tịnh nghiệp Tam phước, Phật ở trong ba điều cuối cùng làm một tổng kết. Ba điều này là: “Tam thế chư Phật, Tịnh nghiệp chánh nhân”, tam thế là đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai. Bồ tát muốn tu hành thành Phật thì ba điều này là chánh nhân của họ, gọi là: “Nhân địa bất chân, quả chiêu vu khúc”[52], quý vị nếu như không từ ba điều này mà đặt nền móng, không những là Phật pháp Đại thừa quý vị sẽ không thành tựu, Tiểu thừa cũng không thể thành tựu. Chúng ta làm sao có thể không coi trọng chứ?

Trong ba điều này, câu thứ nhất: “Hiếu dưỡng phụ mẫu”, tiếp theo là “Phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu Thập thiện nghiệp”. Tiếp theo là điều thứ hai là: “Thọ trì Tam quy, cụ túc chúng giới, bất phạm uy nghi”. Điều thứ ba là: “Phát Bồ đề tâm, thâm tín nhân quả, đọc tụng Đại thừa, khuyến tấn hành giả”. Nói cho chư vị biết đây đều là hoàn thành cho câu thứ nhất “Hiếu dưỡng phụ mẫu”. Hiếu dưỡng phụ mẫu là cương lĩnh, mười câu sau này là cách nói khác về hiếu dưỡng phụ mẫu, đoạn phía sau có một câu làm không được thì cũng là bất hiếu. Hiếu đạo đến lúc nào thì viên mãn? Thành Phật mới viên mãn! Đẳng giác Bồ tát còn có một phẩm sanh tướng vô minh chưa phá thì Hiếu đạo vẫn chưa viên mãn. Cho nên nội dung dạy học của nhà Phật là gì? Hiếu đạo, Hiếu đạo cứu cánh viên mãn.

Phật ở đây biểu diễn thị hiện làm tấm gương cho chúng ta thấy, bản thân thành Phật, tu hành viên mãn rồi, độ chúng sanh công đức cũng viên mãn, đây là ân đức của cha mẹ. Còn phải biểu diễn một chút, làm cho chúng ta thấy, thuyết pháp cho mẫu thân, báo ân mẫu thân, ý nghĩa này sâu sắc và rộng lớn biết bao. Nói cách khác, chúng ta nếu như không có sự thành tựu như Phật Thích Ca Mâu Ni thì là bất hiếu rồi. Thật sự người có thể hiếu thuận cha mẹ, sẽ không khởi một niệm ác nào đối đãi chúng sanh, khởi ác niệm là có lỗi với cha mẹ, không dám làm một việc xấu nào, làm việc xấu cũng có lỗi với cha mẹ, tu học không dám không chăm chỉ, không dám không nỗ lực; nếu như không thể đoạn ác tu thiện, không thể phá mê khai ngộ, không thể chuyển phàm thành thánh thì đây là đại bất hiếu.

Cho nên “Tri ân báo ân”, trong Phật pháp từ sơ phát tâm cho đến khi thành Phật, đều là muốn làm cho tốt bốn chữ này, làm cho viên mãn. Không chỉ là trong kinh Đại Bát Nhã, tám khoa mục tu học của Nhị địa Bồ tát, trong đó có khoa mục tri ân báo ân này. Không phải nói tri ân báo ân, đến Nhị địa Bồ tát mới tu, Nhị địa Bồ tát là đặc biệt nhấn mạnh về tri ân báo ân. Tri ân báo ân là từ lúc bắt đầu học Phật đã phải tu rồi! Làm sao biết được vậy? Trong bộ kinh này dạy cho chúng ta, chúng tôi trong phần đề kinh đã giới thiệu tường tận cho quý vị rồi.

Phật pháp Đại thừa ở Trung Quốc là cử bốn vị Đại Bồ tát để làm đại biểu. Vị thứ nhất chính là Địa Tạng. Địa là biểu thị cho tâm địa, trong tâm địa hàm tàng vô lượng trí tuệ, vô lượng đức năng, tâm địa là bảo tàng. Dùng phương pháp gì để khai mở tâm địa bảo tàng ra? Hiếu, hiếu thân tôn sư liền có thể làm cho bảo tạng trong tự tánh của quý vị, trong chân tâm của quý vị đều khai phát ra hết. Cho nên Hiếu đạo và Sư đạo là có mối liên hệ mật thiết với nhau. Hiếu thân tôn sư, trên thế gian này trong những quốc gia dân tộc khác thì chúng ta rất ít nghe nói, nhưng cổ Ấn Độ và Trung Quốc thì đặc biệt coi trọng. Dạy học của Nho gia chính là đặt cơ sở trên Hiếu đạo, cơ sở của Phật Pháp cũng là trên Hiếu đạo. Cho nên Phật Pháp truyền đến Trung Quốc lập tức liền được Trung Quốc tiếp thu, được Trung Quốc đón nhận, có đạo lý. Cơ sở của nó, mục tiêu của nó chính là điều mà cổ thánh tiên hiền hướng đến. Vì vậy Phật pháp đến Trung Quốc cùng với văn hóa vốn có của nó dung hợp thành một thể. Nếu chúng ta nói Phật giáo là bên ngoài đến, lời này đã không còn thích hợp nữa, không phải là sự thật. Sự thật là dung hợp thành một thể, ý nghĩa này chúng ta phải hiểu. 

Ngày nay chúng ta nếu muốn hoằng dương Phật Pháp, không thể không đặc biệt chú trọng Hiếu đạo. Vì sao vậy? Vì nếu như không có Hiếu đạo thì sẽ không có Phật pháp. Cho nên năm xưa lúc tôi chưa rời Đài Loan, có rất nhiều pháp sư ra nước ngoài hoằng pháp, khi tôi đi đưa tiễn tôi thường khuyên họ đến nước ngoài không nên xây chùa chiền, họ rất ngạc nhiên, vậy chúng tôi làm sao mà kiến lập đạo tràng? – Xây Từ đường. Tôi nói các thầy xây Từ đường công đức còn lớn hơn cả xây chùa chiền, các thầy tiếp dẫn tín đồ càng rộng rãi. Bởi vì xây một ngôi chùa Hoa kiều học Phật, người Trung Quốc mới đi đến, tín đồ Cơ đốc giáo, Thiên chúa giáo, tôn giáo khác họ không đến. Các thầy xây một ngôi Từ đường trong đó cúng tổ tiên, người Trung Quốc đối với tổ tiên cảm tình rất nặng, họ đều đến. Từ đường, không nên xây Từ đường của một dòng họ nào đó, tôi khuyên họ xây Trung Hoa Dân Tộc Bá Tánh Tổ Tiên Từ đường, tất cả người Trung Quốc chung một ngôi Từ đường. Tốt lắm! Trong Từ đường này giảng kinh thuyết pháp, trong Từ đường có thể thờ Phật, có thể thiết lập một Phật đường, ý nghĩa càng lớn hơn xây dựng ngôi chùa. Nhưng những pháp sư này không có ai tiếp thu kiến nghị của tôi, mỗi người vẫn đến bên đó xây dựng một ngôi chùa kiểu Trung Quốc, tín đồ rất ít.

Ở New York, cư sĩ Thẩm Gia Trinh rất có danh tiếng, các nơi trên thế giới đều biết có một người như vậy, ở nơi đó ra sức xiển dương Phật pháp, lễ thỉnh pháp sư Diễn Bồi trú tại Singapore đến Mỹ để chủ trì Phật pháp, hoằng pháp lợi sanh. Pháp sư Diễn Bồi nhận lời rồi, bên Singapore đều giao lại cho người khác, chuyên tâm đến Mỹ để hoằng pháp, điều này là pháp sư Diễn Bồi nói với tôi. Đến New York trú tại Đại Giác tự, những nơi này tôi đều đã đến, ở nơi đó giảng kinh, người nghe kinh khoảng ba bốn mươi người, sau khi giảng xong, những thính chúng này chúc mừng pháp sư: “Thưa pháp sư! Pháp duyên của ngài thù thắng quá, hôm nay đến nhiều người như vậy”. Pháp sư Diễn Bồi nghe xong toát cả mồ hôi lạnh, vô cùng thất vọng! Pháp sư ngài ở Singapore giảng kinh thính chúng có mấy trăm đến cả ngàn người, đến nơi đó ba bốn mươi người đã là ghê gớm lắm rồi, pháp duyên rất thù thắng. Ngài ở lại New York khoảng một hai tháng thì nhanh chóng quay về, không trở lại nữa.

Pháp sư Diễn Bồi thường nói: “Chúng ta người giảng kinh phải xem thính chúng, không có thính chúng thì nơi đó làm sao mà đến được?”. Ở Mỹ đích thực là như vậy, thông thường giảng kinh ở bên đó, thính chúng có bao nhiêu? Hai ba người, năm sáu người, có được mười mấy người thì pháp duyên này rất thù thắng. Cho nên quý vị học biết giảng kinh rồi, tương lai mời đến Mỹ giảng kinh, trong lòng quý vị nên biết, không thể sánh với bên này được. Chúng tôi đến các địa phương ở Mỹ, đi khắp nơi làm gương, đi biểu diễn, lâm thời người tụ tập cũng có thể tụ tập được mấy trăm người, đó chỉ là thỉnh thoảng một lần hai lần, ngày ngày giảng kinh không có ai đến nghe. Vì vậy có lúc quý vị thấy chúng tôi đến bên đó khi nào đông người cũng có đến sáu bảy trăm người. Đó là bao nhiêu năm mới đến một lần, người từ nơi xa đến cũng muốn đến thăm một chút, nghĩa là như vậy. Nếu thường thường ở bên đó giảng kinh thì thính chúng rất ít. Ở chỗ của chúng ta đây kỳ trước có một vị đồng học là pháp sư nào đó ở Ngũ Đài sơn, cùng đến với Không Nhất, nghe nói đi Mỹ rồi, pháp sư Hiển Ý phải không nhỉ? Mắc lừa rồi, mắc lừa lớn rồi! Sau khi đi rồi, nếu thực sự phát tâm hoằng pháp lợi sanh, quý vị nhất định sẽ hối hận, cho nên nhất định phải hiểu rõ ràng. Ở đây các đồng học người Mỹ rất nhiều, mỗi câu tôi nói đều là lời chân thật.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Kinh Huyền Nghĩa Tập 16, HT. Tịnh Không chủ giảng, Hạnh Chơn chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

11. GIẢNG KINH ĐỊA TẠNG, HẾT THẢY CHƯ PHẬT ĐỀU ĐẾN

Xin xem kinh văn:

Nhĩ thời thập phương vô lượng thế giới, bất khả thuyết, bất khả thuyết, nhất thiết chư Phật cập Ðại Bồ tát Ma ha tát, giai lai tập hội.

  Lúc đó hết thảy chư Phật và Ðại Bồ tát Ma ha tát bất khả thuyết bất khả thuyết từ mười phương vô lượng thế giới đều đến tham dự pháp hội[53].

  Ðoạn kinh trên là phần Phát khởi tự của bộ kinh này. Bộ kinh này tổng cộng gồm mười ba phẩm, phẩm thứ nhất là phẩm Tựa, nhưng chẳng gọi là phẩm Tựa mà gọi là phẩm Ðao Lợi Thiên Cung, trên thực tế phẩm này là phẩm Tựa. Ý nghĩa trong phần tựa vô cùng chu toàn viên mãn, phía trước có sáu thứ thành tựu, đây là Chứng tín tự; từ đoạn kinh này về sau là Phát khởi tự. Ðoạn Phát khởi tự nói với chúng ta vô cùng rõ ràng, hàm nhiếp cả Giáo, Lý, Hạnh, Quả; trong Khoa Chú[54] đoạn này được gọi là “Quả Nhân Tập Tán” (Cùng khen ngợi quả và nhân). Chúng ta phải đặc biệt chú ý những chỗ như vậy, phải biết học tập như thế nào, khi Phật thuyết pháp thì trước hết phơi bày quả báo ra cho mọi người thấy, từ quả báo này sanh khởi lòng tin. Sau đó mới giải thích quả báo hình thành như thế nào, giảng về nhân cho bạn thì bạn sẽ hết lòng để nghe, bạn rất muốn biết tại sao. Ðây là thiện xảo phương tiện của việc thuyết pháp, chúng ta phải biết. Thế nên mới nói “quả nhân” chứ chẳng nói “nhân quả”.

  Vừa mở đầu thì hiện lên cái gì? Dạy bạn xem những nhân vật tham gia đại hội này, đây là “Quả”. Ðây là người, người là “quả người”, do quả đức của ngài cảm động nhiều người như vậy đến tham gia pháp hội. Trước khi Phật giảng kinh thì hiện tướng lành, hiện các thứ hào quang, những tướng lành này là “Lý”. Văn Thù Bồ tát nhìn thấy hiện tượng này nên sanh khởi nghi hoặc, đây là tiêu biểu “Hạnh”. Thế Tôn và Bồ tát một người hỏi, một người đáp, Văn Thù hỏi, Thế Tôn trả lời, đây là “Giáo”. Cho nên trong phần Tựa chúng ta thấy Giáo, Lý, Hạnh, Quả, lần tụ hội này là quả báo. Giống như trong kinh Hoa Nghiêm vừa mở đầu trước lúc giảng kinh thì nói về y báo, chánh báo trang nghiêm của Tỳ Lô Giá Na Phật, bày quả báo ra cho bạn thấy.

Chỗ này hiện ra sự chẳng thể nghĩ bàn, chư vị có thấy kinh văn như vầy trong bộ kinh nào không? “Nhĩ thời”, lúc đức Phật lên cung trời Ðao Lợi thuyết pháp cho mẹ, “mười phương vô lượng thế giới, bất khả thuyết bất khả thuyết hết thảy chư Phật”, chư vị có từng thấy trong bộ kinh nào ghi lúc Phật giảng kinh, hết thảy chư Phật đều đến nghe không? Chưa từng thấy bao giờ! Quang cảnh này làm sao tưởng tượng được nổi? Kinh Hoa Nghiêm cũng chẳng có trường hợp này, kinh Vô Lượng Thọ cũng chẳng có, vô cùng hy hữu, không thể hàm hồ, lơ là lướt qua được! Thường thường chúng ta nói câu: “Một Phật ra đời, ngàn Phật ủng hộ”, đó là chư Phật hóa hiện thành Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát tới để giúp đỡ Phật hoằng hóa; còn chỗ này không phải vậy, chư Phật dùng thân phận của Phật đến.

Hôm nay đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, hết thảy chư Phật đều đến tham dự nghe giảng, số người đến là “vô lượng thế giới, nói không xuể, kể không xiết hết thảy chư Phật và Ðại Bồ tát Ma ha tát”; “Ðại Bồ tát Ma ha tát” này theo chư Phật cùng đến, tháp tùng theo chư Phật. Số chư Phật đã nói không xuể, kể không xiết, vậy thì số Bồ tát còn nhiều hơn nữa, tất cả đều đến dự hội. Ðoạn kinh này tuyệt đối không thể hàm hồ, lơ là lướt qua, bạn phải suy nghĩ kỹ đức Thế Tôn suốt đời giảng kinh bốn mươi chín năm, giảng hơn ba trăm hội, không có một hội nào thù thắng đến như vậy. Ðây là những người tham dự pháp hội, là “Quả”, một phần trong Giáo, Lý, Hạnh, Quả của kinh.

  Vì sao họ đều đến? Chẳng có một vị Phật nào không báo ân mẹ, hôm nay đức Phật Thích Ca Mâu Ni chẳng giảng pháp nào khác mà giảng pháp Ðịa Tạng. Thuyết minh hết thảy chư pháp đều nương vào đại địa để sanh khởi, đây là căn bản. Ðịa Tạng tiêu biểu cho cái gì? Tiêu biểu “Hiếu thân tôn sư”, thế nên khi giảng pháp Hiếu thân tôn sư thì hết thảy chư Phật nhất định đích thân đến tham gia, chư Phật đến để làm ảnh hưởng chúng. Ðao Lợi thiên vương trong hội này làm công đức chủ, phước báo của ngài đã tu quả thật rất lớn: Thỉnh Phật đến cung trời Ðao Lợi giảng kinh Ðịa Tạng, phước báo này rất lớn. Thế nên hết thảy chư Phật Như Lai đều đến đầy đủ, một vị cũng không sót, là một nhân duyên vô cùng hy hữu! Ðến để làm gì? – Ðề xướng Hiếu đạo. Vừa gặp mặt liền tán thán đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ý tán thán đó cũng viên mãn đến cùng cực.

 Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 03, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

 12. NHIỀU KIẾP LUÂN HỒI VÌ CHẲNG TU TỪ CĂN BẢN

Chúng ta xem tiếp kinh văn:

Phục hữu tha phương quốc độ cập Ta bà thế giới chư Đại quỷ vương, sở vị: Ác Mục quỷ vương, Ðạm Huyết quỷ vương, Ðạm Tinh Khí quỷ vương, Ðạm Thai Noãn quỷ vương, Hành Bệnh quỷ vương, Nhiếp Ðộc quỷ vương, Từ Tâm quỷ vương, Phước Lợi quỷ vương, Ðại Ái Kính quỷ vương , như thị đẳng quỷ vương giai lai tập hội.

Lại có những vị Đại quỷ vương ở các cõi nước phương khác và thế giới Ta bà, như là: Ác Mục quỷ vương, Ðạm Huyết quỷ vương, Ðạm Tinh Khí quỷ vương, Ðạm Thai Noãn quỷ vương, Hành Bệnh quỷ vương, Nhiếp Ðộc quỷ vương, Từ Tâm quỷ vương, Phước Lợi quỷ vương, Ðại Ái Kính quỷ vương, các quỷ vương như vậy đều đến tụ hội[55].

Đoạn này liệt kê ra mười hạng quỷ vương, quỷ đạo cũng tương đối phức tạp, những vị có phước đức trong quỷ đạo thì được xưng là quỷ vương. Chúng ta ở nhân gian tu phước, phước chẳng uổng phí, phước báo là chân thật, những phước bạn tu, tương lai nhất định sẽ được phước báo. Nhưng đến nơi nào để hưởng phước báo? Không nhất định! Phải coi bạn đến cõi nào, nếu bạn có phước thì bất luận ở cõi nào cũng hưởng phước, đến quỷ đạo cũng sẽ hưởng phước. Nói cho chư vị biết chỉ có cõi địa ngục thì chẳng có cách chi; nếu bạn ở cõi người, cõi trời, cõi súc sanh, cõi quỷ, ai có phước đều sẽ hưởng phước, ở trong cõi quỷ thì sẽ làm quỷ vương.

Những người, những chúng sanh được kể này đều có duyên với Phật, đặc biệt là duyên với Ðịa Tạng Bồ tát rất sâu, chúng ta từ kinh này thấy chúng sanh mười pháp giới đều tụ hội nơi đây, chẳng thể nghĩ bàn, trong hết thảy pháp hội chúng ta chưa từng thấy. Kinh Hoa Nghiêm cũng có mười pháp giới chúng sanh cũng đến dự hội nhưng sánh chẳng bằng kinh Ðịa Tạng. Tại sao vậy? Hội kinh Ðịa Tạng này, phía trước chúng ta thấy hết thảy chư Phật, mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai một vị cũng không sót, hết thảy đều đến đầy đủ, trong kinh Hoa Nghiêm chẳng thấy được việc này. Từ chư Phật Như Lai đến chúng sanh địa ngục, đến những quỷ vương, có rất nhiều quỷ vương coi quản địa ngục, hết thảy đều đến dự hội, vô cùng hiếm có!

Chúng ta đọc đoạn kinh này xong, nhất định không thể coi thường, biết pháp hội này thù thắng khôn sánh. Nguyên nhân là gì? Những người này, chư Phật Như Lai này đều là học trò của Ðịa Tạng Bồ tát, hôm nay thầy giáo có công chuyện, học sinh đâu dám chẳng đến? Ðịa Tạng Bồ tát có oai đức lớn như vậy sao? Ðúng vậy! Ðịa Tạng là gì? – Tâm địa, chẳng phải nói một người. Phía trước vừa mở đầu đã giảng cho bạn, “Ðịa” là tâm địa, chân tâm bản tánh, “Tạng” là vô lượng trí huệ đức năng có sẵn trong bản tánh, hết thảy chúng sanh đều y theo cái này để tu hành thành Phật. Ngày nay giảng Ðịa Tạng pháp môn, hết thảy chư Phật Như Lai đều ủng hộ, hết thảy chúng sanh phải nương nhờ dựa vào, thế nên pháp hội này thù thắng hạng nhất, Hoa Nghiêm không thể sánh bằng, Hoa Nghiêm cũng phải nương theo nó để khơi dậy, nó là chỗ nương dựa căn bản.

Thế nên chư vị phải hiểu tánh trọng yếu của vấn đề này, chỗ nương dựa căn bản chính là phước thứ nhất nói trong Quán kinh. Nói cho chư vị biết nếu ngày nay chúng ta bỏ qua “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm không giết hại, tu mười nghiệp thiện” thì tu pháp môn gì cũng chẳng thể thành tựu ngay trong đời này. Tại sao? Vì bạn không có căn bản cho nên học Phật phải trải qua vô lượng kiếp. Chúng ta học Phật tuyệt chẳng phải chỉ học đời này thôi đâu, trong kinh Vô Lượng Thọ chúng ta thấy nhóm người cùng vua A Xà Thế, nói thật ra chính là nói chúng ta, nhiều đời quá khứ đã từng cúng dường bốn trăm ức Phật, đến nay vẫn còn là phàm phu, vẫn luân chuyển trong sáu nẻo. Cúng dường bốn trăm ức Phật, tu hành, nghe pháp chẳng ít, tại sao vẫn không thể thoát khỏi Tam giới? Tại sao chẳng thể vãng sanh? Ðây là như lúc trước thầy Lý thường nói: “Trong một vạn người niệm Phật khó có được hai, ba người vãng sanh”. Ðạo lý gì? Vì bạn chẳng tu từ căn bản.

Bạn đừng coi những người vãng sanh, vãng sanh có tướng lành, có thể họ nghe kinh rất ít, nghe pháp chẳng nhiều, nhưng họ thật sự đã vãng sanh. Bạn lại hỏi thăm kỹ, người này nhất định hiếu thuận cha mẹ, tôn kính sư trưởng, tâm địa rất từ bi. Bạn hỏi thăm xem trong đời sống hằng ngày xử sự, đãi người, tiếp vật, họ tuyệt đối phù hợp điều thứ nhất trong Tam phước, có ai dạy họ không? Chẳng có ai dạy họ! Họ vốn là như vậy, họ làm người rất từ bi, rất kính trọng người, họ thật sự làm được. Chúng ta chẳng bằng họ, tại sao vậy? Chúng ta mới đọc được một ít sách vở, học được một ít Phật pháp bèn cống cao ngã mạn, cảm thấy mình rất giỏi, người ta chẳng bằng mình. Họ có thể vãng sanh, chúng ta ngược lại bị lọt tuốt phía sau, còn phải luân hồi, tại sao? Họ chưa từng đọc sách, chẳng biết chữ, rất khiêm tốn, rất nhún nhường, luôn cảm thấy mình chẳng bằng người, nhưng họ đã vãng sanh được.

Thế nên càng học nhiều, lúc trước thầy Lý nói lúc chưa học thì còn biết hiếu thuận cha mẹ, học cao rồi, cha mẹ chẳng có học, học vấn cấp bằng của họ cao hơn cha mẹ nhiều, học càng cao thì con mắt càng chạy lên trên đỉnh đầu, ngay cả cha mẹ cũng chẳng coi ra gì, vậy thì làm sao có thể tôn kính sư trưởng! Người như vậy, một ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu cũng chẳng thể vãng sanh. Thế nên chúng ta nhất định phải hiểu đạo lý này, y giáo phụng hành mới chẳng đến nỗi lãng phí đời này. Bộ kinh Ðịa Tạng, đức Phật Thích Ca mở pháp hội tại cung trời Ðao Lợi là để giảng pháp căn bản, cho nên chúng sanh trong mười pháp giới đều đến tham gia pháp hội này, phi thường chẳng thể nghĩ bàn!

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 05, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

13. ĐIỀU KIỆN ĐỂ VÃNG SANH THẾ GIỚI TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC

Chúng ta niệm Phật cầu sanh Tịnh độ cũng có điều kiện, không phải nói tôi tin thì có thể vãng sanh, không được đâu! Hiện nay có một số người đề xướng “Bổn Nguyện Niệm Phật”, nói rằng tôi phát nguyện vãng sanh thì quyết định được sanh, đâu có chuyện đơn giản như vậy! Trong Nguyện có Hạnh thì nguyện này mới gọi là nguyện chân thật, trong kinh không biết Phật đã nói bao nhiêu lần. Nguyện mà không có Hạnh thì gọi là nguyện suông, nguyện đó hư giả, chẳng thể biến thành hiện thực. Bạn phải hiểu ý nghĩa này, Phật chẳng lừa gạt người, tự mình gạt mình thì sẽ bị thiệt thòi to lớn. Dùng Hạnh để thực hiện Nguyện, biến nguyện vọng của bạn thành thực tiễn.

Vì sao chúng ta coi trọng Tam phước, Lục hòa[56]? Đây là pháp căn bản do Phật dạy trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, ba đời chư Phật đều tu ba điều này, đó chính là Tịnh nghiệp chánh nhân. Chúng ta vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới tu Tịnh nghiệp, chúng ta tin A Di Ðà Phật, tin Tây phương Tịnh độ, nguyện sanh Tây phương Tịnh độ, điều kiện thấp nhất là phải làm được Tam phước, nếu chẳng làm được Tam phước thì không thể vãng sanh. Mỗi ngày niệm Phật, niệm mười vạn tiếng Phật hiệu, người xưa nói: “Hét bể cổ họng cũng uổng công”, lời này là lời chân thật, chẳng giả dối.

Trong Tam phước tối thiểu phải làm được một điều thì bạn mới có thể vãng sanh. Nếu bạn có thể làm được điều thứ nhất: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng sát hại sanh vật, tu mười nghiệp thiện”, phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh độ thì bạn có thể vãng sanh Hạ phẩm. Bạn có thể làm được điều thứ hai, điều thứ hai đương nhiên bao gồm điều thứ nhất, tức là cộng thêm: “Thọ trì Tam quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi” thì bạn vãng sanh Trung phẩm. Ðây là ba bậc vãng sanh nói trong kinh Vô Lượng Thọ. Nâng cao thêm, nếu bạn có thể: “Phát Bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Ðại thừa, khuyến tấn hành giả” thì sẽ vãng sanh Thượng phẩm. Ðây là pháp căn bản, đâu có nói phát nguyện suông, chẳng cần tu hành mà có thể vãng sanh, Phật chẳng nói như vậy.

Muôn vàn xin đừng hiểu lầm, chẳng thể bỏ uổng nhân duyên hiếm có trong đời này. Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh là pháp căn bản, cả bộ kinh này nói về cái gì? Chính là nói về phước thứ nhất: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết hại, tu mười nghiệp thiện”, cả bộ kinh nói về việc này. Bạn sẽ hỏi bốn câu trong phước thứ nhất này phải nói như thế nào? Cả bộ Ðịa Tạng Bổn Nguyện kinh này là chú giải cho bốn câu này. Tu học đúng như lý, như pháp, đại sư Thiện Ðạo nói: “Vạn tu vạn người về”, ai cũng không bỏ sót. Nếu bạn tu không đúng như pháp thì sẽ chẳng vãng sanh nổi, Phật chẳng nói sai, là bạn đã hiểu sai ý tứ trong ấy. Trong kinh Vô Lượng Thọ, Phật dạy chúng ta “Ðương hiếu ư Phật”[57], dạy chúng ta tôn sư trọng đạo, đây là giáo nghĩa của kinh Ðịa Tạng, nhất định phải hiểu những đạo lý này.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 05, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

14. CHÁNH NHÂN TỊNH NGHIỆP CỦA BA ĐỜI CHƯ PHẬT

Phật giảng cho chúng ta căn bản của sự tu hành, nói thật ra chính là “Tịnh nghiệp Tam phước”, Tịnh nghiệp Tam phước mở rộng ra chính là hết thảy Phật pháp; vô lượng vô biên Phật pháp cô đọng lại chính là mười một câu này, tuyệt đối không thể xem thường. Mười một câu này cô đọng thêm nữa chính là một câu: “Hiếu dưỡng cha mẹ”, ngàn kinh vạn luận, vô lượng vô biên pháp môn của chư Phật Như Lai đã tuyên nói đều chẳng vượt ra ngoài bốn chữ này. Chúng ta giảng Tam học, Lục hòa, Lục độ, Thập nguyện, các phương pháp tu hành đều biến thành hiện thực trên sự hiếu kính, trong đời sống hằng ngày của chúng ta, trên cách xử sự, đãi người, tiếp vật, đây là chân thật học Phật. Chân thật học Phật thì phải thay đổi hình dáng, sửa đổi tâm niệm, hành vi, như vậy gọi là chân thật học Phật.

Mỗi ngày đều đọc kinh, thậm chí mỗi ngày giảng kinh thuyết pháp, nhưng tâm vẫn không sửa đổi, vẫn là tâm thế tục, vẫn là tâm luân hồi, vẫn là tâm tham – sân – si – mạn, như vậy thì làm sao được? Ðó là giả, chẳng phải là thật! Thật sự xả niệm, thanh tịnh, niệm niệm vì lợi ích cho chúng sanh, chẳng vì chính mình. Trong kinh Hoa Nghiêm chúng ta đọc thấy, nếu vì mình thì các ngài trụ trong Đại Niết bàn, vậy thì tự tại biết mấy; nếu vì chúng sanh thì phải tùy loại hóa thân, chẳng màng khổ nhọc. Ðây là quan niệm của người thế tục chúng ta; Phật, Bồ tát chẳng có khổ nhọc, tại sao chẳng có khổ nhọc? Vì các ngài chẳng có Ta (vô ngã), có Ta mới có khổ nhọc, chẳng có Ta thì ai khổ nhọc? Chúng ta đọc đến câu này cảm khái muôn vàn, chúng ta làm thế nào để học giống hình tướng của Phật, Bồ tát? Nếu chẳng hết lòng y giáo phụng hành thì làm sao được!

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 06, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

15. CHÚ GIẢI TƯỜNG TẬN CHO TỊNH NGHIỆP TAM PHƯỚC

Hôm nay chúng ta tu học pháp môn Tịnh độ, chúng ta xây dựng trên cơ sở Tam phước dạy trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật là cơ sở của chúng ta. Tam phước là gì? Tam phước chính là Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh. Phước thứ nhất trong Tam phước là: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng sát hại sanh vật, tu mười nghiệp thiện”, phước thứ hai là: “Thọ trì Tam quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi”, phước thứ ba là: “Phát Bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Ðại thừa, khuyến tấn hành giả”.

Chư vị nghĩ xem tổng cộng mười một câu, có phải mười một câu này nói về kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện không? Thế nên bộ kinh này chỉ là nói tường tận về mười một câu này mà thôi! Phật đã nói ba điều này là: “Tam thế chư Phật Tịnh nghiệp chánh nhân” (Tịnh nghiệp chánh nhân của ba đời chư Phật), tám chữ này vô cùng quan trọng! Thế Tôn nói rõ cho chúng ta, mười phương ba đời hết thảy chư Phật từ lúc mới phát tâm tu hành đến khi chứng quả đều y theo cơ sở này. Bởi vậy mới biết mười một câu này chẳng phải chỉ là cơ sở của chúng ta tu hành Tịnh Tông mà thôi, tám vạn pháp tướng, bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn, bất cứ một pháp môn nào đều phải xây dựng trên cơ sở này, cơ sở này chính là Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh. Do đó nếu chẳng đặt nền móng, cơ sở trên bộ kinh này thì tu học pháp môn nào cũng chẳng thể thành tựu. Cho nên tôi nói đây là pháp căn bản trong Hành môn của chúng ta, vô cùng quan trọng!

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 18, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

 

16. GIẢNG GIẢI KINH ĐỊA TẠNG LÀ VIỆC TỐI QUAN TRỌNG

Xin xem kinh văn:

Phật cáo Văn Thù Sư Lợi: “Ngô dĩ Phật nhãn quán cố, do bất tận số”.

Phật nói với Văn Thù Sư Lợi: “Ta dùng Phật nhãn để tính cũng chẳng tính nổi”[58].

Phật nhãn chẳng có gì không biết, chẳng có gì không thấy, Phật ở đây nói câu này là lời khiêm tốn, lời khách sáo. Nói với Văn Thù Sư Lợi, nếu Phật dùng Phật nhãn cũng chẳng tính nổi, huống chi là ông! Ráng sức hình dung số người tham gia pháp hội đông đảo tức là nói rõ sự thù thắng trang nghiêm của pháp hội. Hàm ý chứa đựng ở trong ấy là sự quan trọng của pháp hội, vô cùng quan trọng, giảng hết thảy kinh cũng chẳng quan trọng bằng giảng kinh Ðịa Tạng. Việc này cũng giống như việc Tân Gia Ba (Singapore) không ngừng xây dựng, chúng ta thấy khắp đường phố chỗ nào cũng đang xây cất, xây lầu cao, bất luận là xây lầu gì, trước hết phải đắp nền móng vững chắc, Ðịa Tạng pháp môn chính là nền móng, bạn nói có quan trọng không?

Bất luận xây lầu cao bao nhiêu, bất luận hình thức như thế nào, nền móng đều giống nhau, phải vững chắc, phải kiên cố. Nói rõ Phật pháp sâu rộng, pháp môn vô tận, vô lượng pháp môn đều xây dựng trên một nền móng này, chẳng có cơ sở, chẳng có nền móng này thì bất cứ pháp môn nào cũng không thể thành tựu, do đó bạn mới hiểu được tính quan trọng của pháp môn này. Nhiều người đến tham dự như vậy tượng trưng cho pháp môn vô lượng, vô lượng pháp môn đều quy về một cơ sở này. Hết thảy chư Phật tu hành thành Phật, chẳng phải chỉ noi theo một pháp môn thành tựu, môn nào cũng có thể viên thành Phật đạo. Nhưng hết thảy đều xây dựng trên cơ sở, trên căn bản này, phế bỏ cơ sở thì nhất định chẳng thể thành tựu. Chúng ta trong nhiều đời trước, nhiều đời nhiều kiếp coi thường cơ sở này nên chẳng thể thành tựu. Nếu cũng coi thường như cũ, thì đời này niệm Phật chỉ là kết một chút duyên với A Di Ðà Phật mà thôi, vẫn chẳng thể vãng sanh được.

Bạn muốn hỏi đến khi nào thì mới có thể vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới? Khi nào bạn làm tròn điều thứ nhất trong Tam phước tức là pháp môn Ðịa Tạng này, thì bạn mới có thể vãng sanh. Phía trước tôi đã nói với các bạn rồi, nếu như bạn làm được điều thứ nhất thì vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới Hạ phẩm; nếu như làm được điều thứ hai, có thể làm được hai điều thì vãng sanh Trung phẩm; có thể làm được cả ba điều thì vãng sanh Thượng phẩm, đây là sự thật. Nếu như nói điều thứ nhất bạn làm không được, nhưng bạn lại làm được điều thứ hai, thứ ba thì chẳng có việc như vậy, đó là giả. Giống như việc xây nhà lầu, tôi chẳng cần nền móng, cũng chẳng cần tầng thứ nhất, tôi chỉ cần xây tầng thứ hai, tầng thứ ba mà thôi, đâu có đạo lý như vậy!

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 05, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

17. XẢ BỎ PHÁP MÔN NÀY THÌ KHÔNG THỂ THÀNH TỰU

Chúng ta xem đoạn kinh văn tiếp theo:

Văn Thù Sư Lợi, thời Trưởng giả tử nhân phát nguyện ngôn: “Ngã kim tận vị lai tế bất khả kế kiếp, vị thị tội khổ lục đạo chúng sanh quảng thiết phương tiện tận linh giải thoát, nhi ngã tự thân phương thành Phật đạo”.

Này Văn Thù Sư Lợi! Lúc bấy giờ Trưởng giả tử nhân đó bèn phát nguyện rằng: “Từ nay cho đến vô tận kiếp chẳng thể tính ở đời vị lai, tôi sẽ vì chúng sanh đang chịu tội khổ trong lục đạo lập ra nhiều phương tiện, làm cho họ được giải thoát hết rồi tôi mới thành Phật đạo”[59].

Trong đoạn kinh này, chúng ta lại thấy đức Phật Thích Ca Mâu Ni kêu tên ngài Văn Thù Sư Lợi, không thể coi thường đoạn kinh văn này, chẳng thể sơ ý. “Trưởng giả” làm gương tốt, làm mô phạm cho chúng ta, khuyên chúng ta phát tâm, ông nghe Phật dạy xong liền giác ngộ, quay về, và phát đại nguyện. “Ngã kim tận vi lai tế, bất khả kế kiếp”, đây là một thời gian dài, chẳng phải thời gian ngắn, những kiếp tận đời vị lai, nói cách khác thời gian vĩnh hằng, vô cùng vô tận. “Vị thị tội khổ lục đạo chúng sanh”, hoàn toàn tiếp nhận lời dạy của Phật vì chúng sanh khổ nạn, hết thảy chúng sanh tạo tác nhiều nhân khổ nhưng họ không biết, lúc quả khổ hiện tiền thì hối hận không kịp, đến lúc đó thì trở tay không còn kịp nữa. Trưởng giả tử phát tâm này, chính là Ðịa Tạng Bồ tát.

Ngày nay chúng ta đọc đến đoạn kinh này, có thể phát tâm này không? Nếu có thể phát tâm này thì chúng ta sẽ đạt được lợi ích chân thật nơi kinh Ðịa Tạng. Ðời sống của chúng ta khổ, phải nghĩ đến những người khác trên thế gian này còn khổ hơn mình, chúng ta không sợ khổ, vì có khổ nên chúng ta mới thể hội đến hết thảy chúng sanh khổ. Nếu chúng ta sống trong hoàn cảnh rất giàu sang, khi người ta nói khổ thì mình chẳng thể hội được, chỉ khi mình đã từng trải qua sự khổ này rồi mới biết khổ là gì, tâm giúp đỡ khổ nạn chúng sanh mới thiết tha. Nếu chưa từng trải qua khổ nạn, bạn muốn vì khổ nạn chúng sanh nhưng chẳng thể nào thể hội được cái tâm ấy.

Thế nên Phật dạy chúng đệ tử: Một là “lấy giới làm thầy”, hai là “lấy khổ làm thầy”, đặc biệt là người xuất gia, sinh sống cực khổ tốt hơn, luôn thường ở trong tâm cảnh giác, một khi hưởng thọ thì không thể nào chẳng mê hoặc điên đảo được. Do đó nhất định phải hiểu, có phước, người xuất gia tu hành chân chánh nhất định sẽ có phước báo, phước báo đến thì đừng hưởng, nếu hưởng thì sẽ mê muội; khi phước báo đến thì phải chia sớt cho hết thảy tội khổ chúng sanh trong lục đạo hưởng, được vậy thì bạn thật sự độ khổ. Mấy bữa nay chúng ta giảng kinh Hoa Nghiêm đến đoạn đức Phật Tỳ Lô Giá Na xây dựng Hoa Tạng thế giới chẳng để tự hưởng thọ, mà cho hết thảy những Bồ tát phá một phẩm Vô minh, chứng một phần Pháp thân ở mười phương sát độ có chỗ an thân lập mạng, có một đạo tràng tốt để tu hành, cung ứng cho họ hưởng dụng, Phật chẳng hưởng thọ.

Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Ðà Phật xây dựng Cực Lạc Tịnh độ cũng chẳng phải cho ngài hưởng thọ, mà để cung ứng cho hết thảy người niệm Phật ở mười phương thế giới vãng sanh về đó tu hành hưởng dụng, đâu có để cho mình hưởng thọ? Ðây đều làm ra hình tượng tốt nhất cho chúng ta thấy. Thế nên những Tổ sư đại đức có phước báo to lớn xây dựng đạo tràng xong tự mình có hưởng thọ không? Chẳng có, tự mình ở trong phòng phương trượng, chỉ là một căn phòng nhỏ, phước báo dành cho hết thảy thanh chúng (đại chúng thanh tịnh) hưởng thọ, đây là tâm bình đẳng, tâm thanh tịnh. Chỉ cần là người chân chánh tu hành, nếu họ không có chỗ ở, khi họ đến nơi ấy chẳng bao giờ bị từ chối, chẳng khi nào không được tiếp đãi, thế nên mới gọi là thập phương thường trụ, thập phương đạo tràng, đâu có phải là vì danh văn lợi dưỡng của cá nhân. Phật dạy chúng ta, tự ngài thị hiện làm gương cho chúng ta, một tí gì cũng chẳng giả dối, chúng ta nhìn thấy ngài phát tâm, chẳng sợ thời gian dài, chẳng sợ công việc giáo học gian khổ.

“Lập ra nhiều phương tiện, làm cho họ được giải thoát hết rồi tôi mới thành Phật đạo”, đây tức là nói: “Chúng sanh chẳng thành Phật, tôi chẳng thành Phật” cho nên Ðịa Tạng Bồ tát vĩnh viễn thị hiện ở quả vị Bồ tát. Ngày nay chúng ta thấy lời nói trong kinh này, mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai đều tham dự đạo tràng này, đều là do Ðịa Tạng Bồ tát độ hóa, đã độ, đang độ. Ðã độ, đã thành tựu là chư Phật, ngài còn ở quả địa Bồ tát. Học trò đều đã thành Phật, thầy giáo còn là Bồ tát, các chư Phật này đối với thầy không ai chẳng đội ơn. Ngày nay đức Phật Thích Ca Mâu Ni muốn tuyên dương pháp môn Ðịa Tạng, họ đến dự hội tức là báo ơn, đến làm ảnh hưởng chúng. Có pháp hội nào tất cả chư Phật đều đến tham gia? Chẳng có đạo lý như vậy!

Trong pháp hội này hết thảy chư Phật đều đến đầy đủ, làm trang nghiêm đạo tràng, trang nghiêm pháp hội, trang nghiêm pháp môn này, làm cho hết thảy chúng sanh cảnh giác đến pháp môn này thù thắng khôn sánh, không học pháp môn này thì không được, là cơ sở của hết thảy chư Phật thành Phật, là căn bản của việc thành Phật. Nếu bạn muốn xả bỏ pháp môn này thì bạn chắc chắn sẽ không thành tựu. Niệm Phật, nói thật ra chắc chắn cũng chẳng thể vãng sanh. Cả đời hễ gặp đạo tràng vừa xây dựng xong mời tôi giảng kinh, bộ kinh đầu tiên tôi nhất định phải giảng là kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện. Có đất, chúng ta có mảnh đất, có đạo tràng là xây dựng cơ sở vật chất, Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh là xây dựng tâm địa, như vậy mới tương ứng. Khi đạo tràng được xây dựng, được khôi phục thì bộ kinh đầu tiên phải giảng là gì? Nhất định phải là Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh!

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 06, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

18. CHỈ CÓ ĐỊA TẠNG BỒ TÁT MỚI CÓ THỂ ĐỘ MÀ THÔI!

Xin xem kinh văn, đức Phật nói:

Ngô ư ngũ trược ác thế, giáo hóa như thị cang cường chúng sanh, lịnh tâm điều phục xả tà quy chánh. Thập hữu nhất nhị thượng ác tập tại.

Ta ở trong đời ác Ngũ trược[60] giáo hóa những chúng sanh ương ngạnh như vậy, làm cho tâm họ điều phục, bỏ tà về chánh. Trong mười phần còn một, hai phần vẫn theo thói ác[61].

Ðây là lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni phó chúc Ðịa Tạng Bồ tát ở thiên cung, trách nhiệm của Ðịa Tạng Bồ tát nặng hơn bất cứ người nào. Lúc Phật không còn tại thế, sứ mạng giáo hóa chúng sanh phải ủy thác cho Ðịa Tạng Bồ tát. Chư vị phải biết đạo lý này là ở đâu? Tại sao đức Phật Thích Ca chẳng giao chuyện độ hóa chúng sanh cho Quán Thế Âm Bồ tát? Tại sao không giao cho Phổ Hiền Bồ tát hay Văn Thù Bồ tát? Ðều là Đại Bồ tát hết, tại sao không giao cho các ngài mà phải nhờ Ðịa Tạng Bồ tát? Nói thật ra những Bồ tát đó độ không nổi, chẳng có cách gì độ được, chỉ có Ðịa Tạng Bồ tát mới có thể độ mà thôi! Mọi người hiểu ý nghĩa này không? Ðịa Tạng Bồ tát dạy việc gì? – Hiếu thân tôn sư! Nếu người này không hiếu kính cha mẹ, không tôn kính sư trưởng, thì Phật Bồ tát nào đến cũng độ không nổi.

Sự dạy học của Ðịa Tạng Bồ tát là xây dựng nền móng, dạy cấp một Tiểu học, Quán Thế Âm Bồ tát dạy cấp hai, Văn Thù Bồ tát dạy cấp ba, Phổ Hiền Bồ tát dạy cấp bốn; cấp một còn chưa dạy hoàn hảo thì những cấp phía trên không thể dạy nổi. Thế nên chư vị phải hiểu thành Phật bắt đầu từ chỗ nào? – Hiếu thân tôn sư! Lớp của Ðịa Tạng Bồ tát dạy chính là lớp Hiếu thân tôn sư, nếu lớp này học không được, thì khỏi cần nói những lớp khác. Hiếu thân tôn sư được hoàn hảo rồi, Quán Thế Âm Bồ tát mới ra sức được, mới dạy Đại từ đại bi được, mở rộng Hiếu thân tôn sư ra, đó là việc Quán Thế Âm Bồ tát dạy, đạo lý là như vậy. Thế nên lúc Phật chẳng còn tại thế, nhất định phải để Ðịa Tạng Bồ tát thay thế Phật. Cho dù không thể đề cao cảnh giới này, bạn chân chánh làm được Hiếu thân tôn sư thì sẽ không đọa ba đường ác; tuy không ra khỏi Tam giới, nhưng cũng chẳng đọa ba đường ác, bởi vậy nên đây là căn bản của Phật pháp.

Nếu chúng ta không thể xây dựng pháp căn bản thì nói thật ra học Phật chỉ là một trồng một cái nhân lâu xa mà thôi. Trong kinh Hoa Nghiêm có nói đến mười loại căn cơ, đây là viễn cơ, tức là đời này không đạt được lợi ích, trong Phật pháp bạn chỉ un đúc một chút hạt giống vào A lại da thức của bạn, phải đợi đời sau, đời sau nữa, nhiều đời nhiều kiếp sau, đến khi nào nhân duyên chín muồi mới làm tiếp tục, giúp chúng sanh trồng nhân cho kiếp lâu xa, trong đời này nhất định sẽ chẳng thâu hoạch được hiệu quả. Nếu trong pháp môn Ðịa Tạng này vun bồi cơ sở rồi, cũng nghĩa là làm được phước thứ nhất trong Tam phước, chư vị phải biết, cả bộ kinh Ðịa Tạng giảng về điều gì? Chính là: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết hại, tu mười nghiệp thiện”, chính là bốn câu này. Năm xưa tôi ở các thành thị miền đông nước Mỹ giảng đại ý kinh Ðịa Tạng, có nhiều người cảm thấy kỳ lạ: “Tịnh Không pháp sư chuyên tu Tịnh độ, chuyên hoằng Tịnh độ, tại sao lại giảng kinh Ðịa Tạng? Có người hỏi tôi như vậy. Tôi liền nói: “Quý vị không hiểu, những gì tôi giảng chính là phước thứ nhất trong Tịnh nghiệp Tam phước, vẫn chuyên tu chuyên hoằng, chẳng lìa khỏi Tịnh Tông”.

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy phu nhân Vi Ðề Hy, Vi Ðề Hy phu nhân muốn cầu sanh Tây phương Tịnh độ, thỉnh đức Phật Thích Ca dạy phương pháp vãng sanh cho bà. Trước khi truyền dạy phương pháp niệm Phật, ngài dạy bà tu Tịnh nghiệp Tam phước, dạy bà đây là cơ sở, ba đời chư Phật đều nhờ cơ sở này mới thành tựu. Giống như xây nhà vậy, dạy bạn làm sao xây nhà? Phải dạy bạn đắp nền móng, đắp nền móng đàng hoàng rồi mới dạy bạn làm sao xây tiếp, bạn coi chuyện này quan trọng biết bao! Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện này chính là phước thứ nhất trong Tam phước, bạn nói xem có quan trọng hay không?

Tại sao ở đạo tràng mới xây dựng tôi nhất định phải giảng kinh Ðịa Tạng mà chẳng giảng kinh khác? Không có tâm hiếu thuận cha mẹ, tôn sư trọng đạo thì không cần nói chuyện gì hết, bạn làm sao xây dựng Phật pháp? Phật pháp là giáo học, giáo dục, đạo thầy trò (Sư đạo), Sư đạo xây dựng trên cơ sở Hiếu đạo. Nếu chẳng có Hiếu đạo thì chẳng có Sư đạo, vậy còn phải nói gì nữa? Thế nên việc này rất quan trọng! Trong hai mươi mấy năm nay tôi vẫn chẳng quên đề xướng việc xây Từ đường, Từ đường là một trung tâm để dạy đạo Hiếu từ xưa đến nay ở Trung Quốc. Theo chính sách hiện nay của chính phủ, Từ đường của mỗi nhà chẳng còn nữa, đã bị phế bỏ rồi, âu cũng là một việc tốt. Sau khi phế bỏ thì phải xây cái mới, cái mới này nên xây như thế nào? Nên xây Từ đường cộng đồng, đừng xây cho từng nhà, mỗi một huyện chỉ xây một Từ đường, Từ đường cho trăm họ.

Trước kia là cho từng họ: Từ đường họ Trương, Từ đường họ Lý, cái mới của chúng ta phù hợp với chính sách của quốc gia, xây Từ đường cộng đồng, tốt lắm! Người cả nước đoàn kết thành nhất tâm, mỗi năm mùa xuân, thu làm lễ cúng tế tổ tiên, do Huyện trưởng đứng ra cúng tế, như vậy hay lắm! Mỗi huyện có Từ đường chung của huyện, tốt lắm, chúng ta đề xướng Hiếu đạo; đừng xây cho từng họ từng họ nữa, làm cho các họ, tông tộc từng họ trong cả nước có thể đoàn kết lại. Phế bỏ một cái tức Từ đường cho riêng từng họ, kiến thiết một cái mới, tiến bộ hơn trước, thù thắng hơn trước. Như vậy là rất đúng. Tôi đề xướng xây dựng Tông Từ cho trăm họ, không những mỗi huyện nên xây một cái, những nơi ở hải ngoại có kiều bào đều nên xây dựng giống vậy.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 07, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

19. DÙNG PHÁP MÔN NIỆM PHẬT ĐỂ PHỔ ĐỘ CHÚNG SANH

Xin xem kinh văn:

Kỳ hữu vị điều phục giả tùy nghiệp báo ứng, nhược đọa ác thú thọ đại khổ thời, nhữ đương ức niệm, ngô tại Ðao Lợi thiên cung ân cần phó chúc, lịnh Ta Bà thế giới chí Di Lặc xuất thế dĩ lai chúng sanh, tất sử giải thoát vĩnh ly chư khổ ngộ Phật thọ ký.

Còn những kẻ chưa được điều phục thì theo nghiệp mà chịu báo ứng. Nếu họ đọa vào đường dữ và chịu nhiều sự đau khổ thì ông nên nhớ Ta ở cung trời Ðao Lợi đã ân cần phó chúc ông làm cho chúng sanh ở thế giới Ta Bà đến lúc đức Phật Di Lặc xuất thế đều được độ thoát, vĩnh viễn xa lìa các sự khổ, được gặp Phật và được thọ ký[62].

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni tại cung trời Ðao Lợi ân cần ủy thác công việc giáo hóa chúng sanh cho Ðịa Tạng Bồ tát, vô cùng rõ ràng và minh bạch. Những người đã từng trong thời gian giáo hóa của Thế Tôn, kể cả thời Mạt pháp, cũng có nghĩa là trong pháp vận mười hai ngàn năm của đức Phật Thích Ca[63], những người đã được nghe danh hiệu Phật, nhìn thấy tượng Phật, lúc Phật còn tại thế đã thấy Phật, lúc Phật chẳng còn tại thế đã nhìn qua hình tượng của Phật, hoặc là tượng điêu khắc, hoặc là tranh vẽ. Hoặc nghe đến danh hiệu của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nhìn qua hình tượng của Tam bảo, bất luận Tam bảo này là thật hay giả, có tu hoặc chẳng có tu, đều không quan trọng vì chỉ cần họ có dịp tiếp xúc thì đều được trồng thiện căn. Tuy đã trồng thiện căn nhưng ác nghiệp tập khí của họ quá nặng. Có thiện căn dày thì sanh một chút cung kính, không chịu y giáo phụng hành; thiện căn mỏng thì không những chẳng sanh tâm cung kính, ngược lại còn hủy báng.

Thế nên chư vị phải biết, lúc mới học Phật chúng ta bị một chút hủy báng chẳng đáng kể gì hết. Chư Phật Như Lai ứng hóa nơi thế gian này, bị hủy báng quá nhiều, quá nhiều rồi, Phật chẳng giữ trong tâm, đây là việc chúng ta nên học các ngài. Bị những sự sỉ nhục, hủy báng này, chúng ta nhìn chúng sanh tạo tội nghiệp phải nên khởi tâm thương xót, làm sao chúng ta có thể phiền họ được? Làm sao có thể trách họ được? Nếu còn sanh khởi tâm muốn trả đũa thì bạn hoàn toàn sai mất rồi. Bạn phải biết họ ngu si, họ chẳng có trí huệ, phiền não tập khí của họ quá nặng nên họ mới tạo tác ác nghiệp, thương xót họ còn không kịp thì có lý nào trách móc họ! Ðây là chư Phật, Bồ tát thị hiện cho chúng ta xem, dạy chúng ta làm sao học tập. Người tạo ác nghiệp thì nhất định phải đọa địa ngục, “nếu đọa vào đường dữ và lúc chịu nhiều đau khổ”, đây là đọa địa ngục, tạo tội nghiệp trong Phật pháp.

Sau đó là lời Thế Tôn phó chúc, “nhữ đương ức niệm”, “nhữ” là chỉ Ðịa Tạng Bồ tát, lời này là nói với Ðịa Tạng Bồ tát: Ông nên nghĩ đến. “Ngô” là đức Phật Thích Ca tự xưng, Thế Tôn “tại Ðao Lợi thiên cung”, hôm nay “ân cần phó chúc”, nhờ ông làm việc này. “Lịnh Ta Bà thế giới, chí Di Lặc xuất thế dĩ lai chúng sanh”, đây chẳng phải là chúng sanh thông thường, đều đã gặp được Phật pháp, những chúng sanh tạo tội nghiệp nơi Tam bảo, chúng ta phải hiểu rõ việc này. Cũng như phía trước có nói: “Một, hai trong mười người”, số lượng trong đó rất nhiều. Mãi đến lúc Phật Di Lặc xuất thế, thời gian này dài năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm, là người xưa nói như vậy.

“Tất sử giải thoát, vĩnh ly chư khổ, ngộ Phật thọ ký”, Ðịa Tạng Bồ tát dùng pháp môn gì? Nói cho quý vị biết ngài dùng pháp môn niệm Phật. Nghiệp chướng, tập khí của chúng sanh đời Mạt pháp rất nặng, những pháp môn khác nhất định không thể thành tựu. Tuy nói pháp môn bình đẳng, chẳng có cao thấp, nhưng căn tánh chúng sanh chẳng đồng, tập nhiễm chẳng đồng, tu học những pháp môn khác khó khăn, pháp môn niệm Phật dễ hơn. Phía trước chúng ta thấy cô Bà La Môn, sau đó là cô Quang Mục, cả hai đều dùng pháp môn niệm Phật. Chỉ có pháp môn niệm Phật, vãng sanh đến Tây phương Cực Lạc thế giới mới được thật sự giải thoát, vĩnh viễn xa lìa các sự khổ, gặp Phật A Di Ðà được ngài thọ ký, đây đều là sự thật.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 08, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

20. KHÓA TRÌNH PHẢI HỌC TẬP GIẢNG GIẢI VÀ TUYÊN DƯƠNG

       Đức Thế Tôn tại Ðao Lợi thiên cung trong hội giảng kinh này ủy thác chúng sanh đời Mạt cho Ðịa Tạng Bồ tát giáo hóa, có đạo lý. Tam độc tham, sân, si của chúng sanh thời Mạt pháp tăng trưởng, chẳng biết sám hối, hướng thiện, chẳng biết hiếu thân tôn sư, chẳng hiểu thiện nhân thiện quả, phải nhờ Ðịa Tạng Bồ tát giáo huấn. Nói cách khác, đời Mạt pháp chân chánh có thể giáo huấn hết thảy chúng sanh, bộ kinh này là khóa trình nhất định phải học, phải thường giảng giải và tuyên dương.

       Phật giao phó trách nhiệm hoằng dương kinh này cho hết thảy Bồ tát tham dự hội, nghe xong chúng ta phải phát tâm gánh vác. Lời nhắn nhủ của Phật chúng ta cũng làm theo, cũng noi gương Ðịa Tạng Bồ tát, y chiếu lời dạy trong kinh điển mà tu hành, đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện, chẳng lo đến sinh mạng của mình, huống chi là khổ nạn của sự sinh hoạt. Nhất định phải làm theo giáo giới của Phật cho bằng được, quả báo sau này nhất định sẽ giống như kinh nói, chúng ta phát nguyện vãng sanh nhất định sẽ được sanh Tịnh độ.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 09, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

21. NGƯỜI TRUYỀN THỪA CỦA HẾT THẢY CÕI NƯỚC PHẬT

Mời mọi người xem kinh văn:

Ngã kim hựu mông Phật phó chúc, chí A Dật Ða thành Phật dĩ lai, lục đạo chúng sanh khiển lịnh độ thoát.

Con nay lại được đức Phật phó chúc từ nay đến khi ngài A Dật Ða[64] thành Phật, phải làm cho chúng sanh trong lục đạo đều được độ thoát[65].

Phía trước chúng ta đã đọc qua, trong đoạn thời gian rất dài sau khi ngài nhập diệt, đức Phật giao phó việc độ thoát, giáo hóa chúng sanh khổ nạn cho Ðịa Tạng Bồ tát và hết thảy chư Đại Bồ tát tham dự hội kinh này, nhưng Ðịa Tạng Bồ tát nắm phần chính yếu. Những câu này là Ðịa Tạng Bồ tát nhận lời phó chúc của Thế Tôn, ngài y giáo phụng hành. Nói cách khác, khi Phật không còn tại thế, ai sẽ thay thế Phật? Ðịa Tạng Bồ tát thay thế Phật mãi cho đến khi đức Phật kế tiếp ra đời. Từ đây có thể biết, chúng ta thấy trong bộ kinh này, cũng như ở hết thảy cõi nước chư Phật trong hư không pháp giới, hóa thân của Ðịa Tạng Bồ tát tận hư không, trọn khắp pháp giới, khi thế giới nào không có Phật trụ thế, người đại diện cho Phật đều là Ðịa Tạng Bồ tát. Không phải ngài chỉ đại diện sau khi Thế Tôn diệt độ và trước khi Phật Di Lặc ra đời, mà ở hết thảy các cõi nước chư Phật, trong đoạn thời gian sau khi đức Phật trước diệt độ và trước khi đức Phật kế tiếp ra đời, người thay mặt đức Phật độ hóa chúng sanh đều là Ðịa Tạng Bồ tát.

Ðịa Tạng Bồ tát đáng cho người ta tôn kính, hoằng nguyện của Ðịa Tạng, chư Phật Bồ tát không thể không tán thán, không thể không khâm phục. Tại sao vậy? Ngài độ những chúng sanh khó độ nhất, những chúng sanh do Phật độ phần nhiều đều có căn cơ chín muồi rồi, Phật mới xuất hiện đến độ họ. Ðịa Tạng Bồ tát độ những chúng sanh căn tánh chưa chín muồi, vẫn đang tạo tội nghiệp như cũ, khó độ nhất. Do đó chúng ta phải đọc kỹ bộ kinh này, phải suy nghĩ, phải hiểu nghĩa thú, sau đó mới biết kinh này trong hết thảy kinh điển cũng thuộc về pháp luân căn bản. Ðặc biệt là trong thế giới của chúng ta, chúng sanh ở Diêm Phù Ðề, đây là pháp tu học căn bản của chúng ta. Hiểu rõ đạo lý này, đích thật có thể diệt hết thảy tội, có thể tu hết thảy thiện, tại sao vậy? Muốn có thể hiểu rõ chân, vọng, tà, chánh, thị, phi, thiện, ác chẳng dễ! Nếu chẳng có trí huệ cao độ thì làm không nổi.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 10, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

22. ĐỊA TẠNG BỔN NGUYỆN CHÍNH LÀ TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN

Xin xem tiếp câu sau:

Nhữ ký tất thị vãng nguyện, lũy kiếp trọng thệ quảng độ tội bối, ngô phục hà lự.

Đời trước ông đã phát nguyện, nhiều kiếp lập trọng thệ, quảng độ những kẻ có tội, thì Ta còn lo gì nữa[66].

Đức Thế Tôn nghe Địa Tạng Bồ tát báo cáo cũng vô cùng hoan hỷ, nói ông đã “tất thị vãng nguyện”, Địa Tạng Bồ tát phát nguyện độ chúng sanh chẳng phải ở ngày hôm nay, vô lượng kiếp trước ngài đã phát nguyện này, nhiều đời kiếp thực tiễn nguyện vọng này của ngài, vả lại đã phát nhiều lần. Giống như chúng ta mỗi ngày đều niệm Tứ hoằng thệ nguyện: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô lượng thệ nguyện đoạn…”, mỗi ngày chúng ta đều niệm Tứ hoằng thệ nguyện, chứ chẳng phát Tứ hoằng thệ nguyện, nếu thật sự phát được thì còn phải nói nữa ư? Nếu quả thật đã phát nguyện này thì bạn sẽ chẳng là phàm phu nữa! Không là phàm phu thì là gì? Bạn sẽ là Phát tâm trụ Bồ tát! Chúng ta coi kinh Hoa Nghiêm nói Phát tâm trụ Bồ tát là địa vị gì? Địa vị Sơ trụ trong Viên giáo[67], bạn đã siêu việt lục đạo, siêu việt thập pháp giới, Tứ hoằng thệ nguyện đã phát thật sự liền siêu việt.

Không những chẳng còn trong lục đạo, bạn cũng chẳng còn trong thập pháp giới, vừa phát liền siêu việt. Mỗi ngày đều niệm thì không được, niệm thì không thể siêu việt, phải chân thật phát thì mới được. Chúng ta quan sát cặn kẽ, Tứ hoằng thệ nguyện có phải là Địa Tạng Bổn Nguyện hay không? Phải, chẳng sai khác gì cả! Hôm nay tại cung trời Đao Lợi, Địa Tạng Bồ tát cũng phát nguyện nữa, tiếp nhận lời phó chúc của Thế Tôn giúp đỡ những chúng sanh khổ nạn này. Thế Tôn ở nơi đây nói lời này là tán thán ngài. “Lũy kiếp trùng thệ”, chữ này đọc như âm của chữ “trọng” cũng được, đọc âm chữ “trùng” cũng được, đều được hết. “Trọng” là lời nguyện của ngài rất nặng. “Trùng” là ngài đã phát nguyện nhiều lần rồi, hai cách đọc chữ này, hai ý nghĩa này đều hợp lý. Phật thấy họ sốt sắng gánh vác thì cũng rất an ủi, chẳng phải âu lo nữa, chẳng phải bận tâm nữa.

Thật ra đây hoàn toàn đều là biểu diễn cho chúng ta coi, chư vị phải hiểu, Thích Ca Mâu Ni Phật cũng hóa thân làm Địa Tạng Bồ tát. Tại sao không dùng thân Phật để xuất hiện trong thế gian này, tiếp tục thuyết pháp cho chúng ta? Không thể được, những chúng sanh này tâm thức chẳng định. Chư vị phải hiểu, nếu thấy Phật trụ thế lâu dài, chúng sanh sẽ giải đãi, làm biếng: “Không sao đâu, hôm nay không nghe kinh, ngày mai ngài cũng sẽ giảng nữa, năm nay không học, hai năm sau học cũng chẳng trễ, lúc nào ngài cũng giảng mà!”. Nếu nói Phật sẽ lập tức diệt độ thì họ sẽ khẩn trương: “Phải học mau lên, không học thì sẽ chẳng còn cơ hội nữa”, họ sẽ khẩn trương lên. Thế nên Phật thị hiện diệt độ, thị hiện trụ tại thế gian đều là thiện xảo phương tiện, chúng ta phải hiểu ý nghĩa này. Việc cầu học không phải cũng là vậy hay sao?

 Lúc trước tôi học ở Đài Trung, trong một thời gian ngắn, tôi đạt được lợi ích nhiều hơn phần đông những bạn học khác. Vì nguyên nhân gì? Chúng tôi là người ở phương xa đến, đến Đài Loan làm khách, thời gian rất ngắn, phải học mau mau, học hết lòng, không thôi thì đến một ngày nào đó sẽ mất cơ hội. Những người cư trú ở thị xã Đài Trung chẳng có quan niệm này, thầy Lý thường trú ở thị xã Đài Trung, năm nay không thành thì vẫn còn năm tới, năm tới không thành thì cũng còn năm tới nữa. Có tâm ấy thì vĩnh viễn sẽ làm biếng, mãi đến lúc thầy Lý vãng sanh cũng vẫn chưa học thành tựu. Thầy Lý cư trú ở Đài Trung suốt ba mươi tám năm, tâm lý này chẳng giống nhau. Chúng tôi đến làm khách, tâm trạng này rất khẩn trương, phải nắm chắc lấy cơ hội này, biết rằng một khi mất cơ hội thì chẳng dễ gì kiếm lại được. Phật, Bồ tát xuất hiện ở thế gian này, dùng thân phận của Phật để xuất hiện cũng là ý nghĩa này, chẳng thể trụ lâu dài. Thị hiện trụ thế lâu dài thì chúng sanh trở về sau sẽ lười biếng, lời giáo học của Phật sẽ chẳng linh nữa, thế nên không thể thị hiện trụ lâu dài.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 10, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

23. ĐẠO LÝ VÀ NGUYÊN TẮC CỦA TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN

Dưới đây đưa ra thí dụ để nói, điều này quý vị đều rất rõ ràng, rất minh bạch, nguyện có thông có biệt, thông là Tứ hoằng thệ nguyện. Tứ hoằng thệ nguyện có thể nói là tất cả chư Phật và Bồ tát lúc ở nhân địa đã phát vô lượng vô biên đại nguyện, quy nạp thành bốn loại lớn này. Tất cả chư Phật Như Lai trong ba đời mười phương, bất luận phát nguyện gì, đều không lìa bốn cương lĩnh này. Vì vậy, bốn cương lĩnh này là cương lĩnh chung cho hạnh nguyện của tất cả Bồ tát.

Thực tế mà nói, Tứ hoằng thệ nguyện tôi đã giảng rất nhiều trong các pháp hội. Nguyện chân chánh là nguyện thứ nhất, chính là: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, chính là nguyện này. Ngày  nay chúng ta không phát ra nguyện này, chỉ là thấy được người khác phát, chúng ta nghe và đọc theo, chứ không phát ra. Vì sao vậy? Nếu nguyện này phát ra thì ba nguyện sau sẽ hoàn thành, ba nguyện sau đều là điều kiện muốn hoàn thành nguyện thứ nhất. Quý vị muốn độ các chúng sanh khổ đau này, nếu bản thân quý vị không có biện pháp lìa khổ, thì làm sao có thể độ người khác? Vì vậy, quý vị phải đoạn trừ phiền não, nhất định không được nói bản thân mình không đoạn trừ phiền não, mà có thể giúp người khác đoạn trừ phiền não, không có lý này. Bản thân mình phải đọan trừ phiền não trước.

Vì sao ta đọan trừ phiền não? Vì sao ta tu hành? Là vì muốn độ tất cả chúng sanh! Nói theo pháp thế gian, tâm của người này, chí của người này, nguyện của người này rất vĩ đại, họ không vì bản thân mình, mà vì chúng sanh. Đoạn trừ phiền não, thành tựu đức hạnh của mình. Sau khi bản thân mình có đức hạnh, còn phải có năng lực, có đức hạnh mà không có năng lực, vẫn không thể giúp đỡ người khác, cho nên mới có nguyện thứ ba: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Quý vị phải đầy đủ năng lực, phải có trí tuệ, phải có năng lực. Trong quá trình giáo dục, đức hạnh là việc đầu tiên.

Bốn khoa giáo dục của Khổng lão phu tử, thứ tự đó không thể đảo ngược. Thứ nhất là đức hạnh, thứ hai là ngôn ngữ, thứ ba là chính sự, thứ tư là văn học. Thánh nhân thế xuất thế gian đều đặt đức hạnh lên hàng đầu. Chúng ta thử xem giáo dục hiện nay, chúng ta có thể thấy được toàn thế giới, giáo dục thời đại này đã bỏ đi vấn đề đức hạnh, không xem trọng, không ưa chuộng, cho nên thế gian này gọi là loạn thế, rất trược ác. Mọi người đều chạy theo dục vọng của mình để phát triển, ra sức phát triển chỉ vì lợi ích cá nhân, phát triển trên sự tổn người lợi mình. Thế gian này có ở đâu mà không loạn? Thế Tôn dạy, dạy chúng ta không tranh đua. Trong Kinh Kim Cang, Thế Tôn khen ngợi tôn giả Tu Bồ Đề được Vô Tranh Tam muội. Nhưng thế giới ngày nay, bất luận ở nơi nào, quý vị nghe đến sự cạnh tranh, nhất định là muốn hơn người khác. Khái niệm tranh đua được người hiện đại tôn trọng, sùng bái. Đó là một khái niệm sai lầm, thánh nhân thế xuất thế gian đều không tán thành.

Chúng ta thấy Khổng tử, Mạnh tử đều nói đến khiêm nhường, đều nói đến nhẫn nhịn. Mạnh tử nói càng hay: “Trên dưới đều thủ lợi thì nước ấy nguy nan”. Đây là điều ông nói cho Lương Huệ Vương. Đất nước này, nếu từ trên xuống dưới đều muốn tranh lợi thì đất nước này sẽ nguy hiểm. Một gia đình, một đoàn thể, nếu người này người kia đều muốn tranh đua thì gia đình đó sẽ suy tàn, đoàn thể đó sẽ thất bại. Chỉ có hòa bình mới có thể cùng tồn tại. Vì vậy, đức hạnh nhất định phải dựa vào giáo dục. Công tác quan trọng nhất của giáo dục, chính là dạy tất cả chúng sanh khôi phục đức hạnh của mình. Đức hạnh là đức tốt năng tốt vốn đầy đủ trong tự tánh, không phải từ bên ngoài vào. Nhưng vì chúng ta mê mất, nên thánh nhân dạy chúng ta khôi phục. Nếu quý vị có đức hạnh, có trí tuệ, có năng lực, có thể giáo hóa chúng sanh, có thể làm tấm gương sáng cho chúng sanh noi theo, làm mô phạm cho chúng sanh. Nhưng quý vị vẫn không thể viên mãn đạt được nguyện vọng giáo hóa chúng sanh của mình. Vì sao vậy? Vì chủng loại chúng sanh rất nhiều, các phần tử rất phức tạp, nên nhất định bản thân mình, trí tuệ, đức hạnh và năng lực, phải đạt đến viên mãn thật sự. Phiền não phải thật sự đoạn tận, quý vị mới đạt được thành quả giáo hóa cứu cánh viên mãn, đó chính là nguyện thứ tư: “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”.

Vì vậy, quý vị hãy thử nghĩ xem, vì sao chúng ta phải đoạn trừ phiền não? Vì sao học pháp môn? Vì sao nhất định phải thành Phật đạo? – Tất cả đều là vì độ chúng sanh, không phải vì bản thân mình, mới có thể thật sự thành Phật đạo. Vì mình làm sao có thể thành Phật đạo? Từ đó cho thấy, nếu quý vị không phải đang công phu đoạn trừ phiền não, công phu học pháp môn, thì nguyện thứ nhất của quý vị là giả không phải là thật. “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” chỉ là lời nói đầu môi mà thôi, không phải là chân tâm của quý vị. Sau chân tâm phải thật sự thực hành, nếu không thực hành thì nguyện này không làm được. Vì vậy, bốn nguyện này, kì thật mà nói thì chính là một nguyện, đó là nguyện thứ nhất. Ba nguyện sau là điều kiện cần có để hoàn thành nguyện thứ nhất. Chúng ta nhất định phải hiểu được đạo lý này, nhất định phải siêng năng nỗ lực để học tập.

Bốn nguyện này đem toàn bộ giáo pháp trong Phật pháp, tâm từ bi của tất cả chư Phật Như Lai đối với chúng sanh, hoàn toàn hiển bày ra. Ngày nay chúng ta dạy người khác, giúp thế gian này tiêu trừ tất cả tai nạn. Chúng ta dùng phương pháp nào? Đây là nguyên tắc chỉ đạo tốt nhất, cạnh tranh không thể giải quyết được vấn đề, quyết không thể độ chúng sanh, chỉ có khiến chúng sanh càng đau khổ. Cạnh tranh đến chỗ kịch liệt sẽ trở thành chiến tranh, có thể giải quyết được vấn đề sao? Từ xưa đến nay, vấn đề nào dựa vào chiến tranh mà có thể giải quyết? Chỉ có thật sự đoạn trừ phiền não, học pháp môn, thành Phật đạo, dùng phương pháp giáo dục có thể đạt được hiệu quả tốt đẹp nhất.

Trong kinh này nói đến biệt nguyện của Bồ tát, đó là tâm hiếu. Bồ tát hiếu thuận với cha mẹ mình, mở rộng tâm hiếu này, hiếu thuận với tất cả chúng sanh trong hư không pháp giới. Hiếu hạnh này hiển bày, tự tánh là viên mãn. Chúng ta hiểu rõ đạo lý này, từ một mà suy ra ba, chúng ta biết tôn kính sư trưởng của chúng ta, yêu kính thầy của chúng ta, mở rộng tâm yêu kính này, có thể yêu kính tất cả chúng sanh trong hư không pháp giới. Sự yêu kính này hiển bày thì tánh đức đã bộc lộ. Chúng ta dùng tâm hiếu, tâm cung kính đối đãi với tất cả chúng sanh trong hư không pháp giới. Đó gọi là học đạo Bồ tát. Đó mới thật sự gọi là phát tâm Bồ đề. Đem sự hiếu kính làm pháp môn đại tổng trì, làm cương lĩnh chung, nguyên tắc chung để tu học toàn bộ Phật pháp, tuyệt đối không bỏ qua, đó là sự thật chân chánh. Ai là người thực hành hiếu kính một cách viên mãn? Chư Phật Như Lai, các ngài làm được cứu cánh viên mãn, đó là điều chúng ta cần phải noi theo. Vì vậy, trong kinh Phật nói với chúng ta cũng là sự thật, là lời nói chân thật: “Tất cả chúng sanh đều là cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai”. Lời nói này là thật không phải là giả. Lời này nói lên điều gì? Nói lên quan hệ của tất cả chúng sanh với bản thân chúng ta.

Chúng ta ngu muội vô tri, không biết quá khứ, không biết vị lai. Đức Phật có năng lực, có trí tuệ, có thần thông, biết được quá khứ, biết được vị lai, cho nên ngài nói với chúng ta, giữa người và người, người và tất cả chúng sanh, rốt cuộc là mối quan hệ gì? Quan hệ này rất mật thiết, cách nói này chúng ta rất dễ hiểu. Nếu nói sâu hơn nữa, nói chuẩn xác hơn nữa, chúng ta sẽ không hiểu, tầng lớp sâu nhất, chính là tất cả vạn pháp đều từ tự tánh biến hiện. Trong Kinh Hoa Nghiêm nói: “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”, điều này nói càng sâu sắc thiết thực hơn. Cách nói này giống như câu của Lão tử đã nói: “Trời đất và ta đồng căn, vạn vật và ta nhất thể”, đây là Lão tử nói. Hai câu của Lão tử nói với “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến” trong Kinh Hoa Nghiêm đã nói, quả thực cùng một ý. Vì vậy, cổ thánh tiên hiền của chúng ta, tuy không có chứng cứ nói họ là Phật Bồ tát, nhưng từ lời nói việc làm của họ, từ lời dạy của họ, nếu họ không phải là chư Phật Bồ tát thì không nói ra được những lời đó.

  Ở đây nói đến trung tâm của kinh này là hiếu kính, cho nên cổ đức đều nói bộ kinh này là Hiếu kinh của nhà Phật. Nhà Nho có Hiếu kinh, còn đây là Hiếu kinh của nhà Phật. Từ đó cho thấy, Phật pháp Đại thừa bắt đầu học từ đâu? Bắt đầu học từ pháp môn Địa Tạng. Tâm hiếu thuận, tâm cung kính là tánh đức, mà còn là tánh đức viên mãn. Tánh đức, tất cả chúng sanh mỗi mỗi đều sẵn có, vốn đầy đủ, không một chúng sanh nào không có, mỗi mỗi đều có. Vì sao tánh đức của chúng ta không thể hiện tiền? Vì tánh đức bị vô minh phiền não che lấp, cho nên chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay tu học đều không đạt được kết quả. Điều này bản thân chúng ta nên suy nghĩ thật kỹ.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Kinh Huyền Nghĩa Tập 07, HT. Tịnh Không chủ giảng, Khánh Hiếu chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

24. ĐỊA TẠNG BỒ TÁT DẪN ĐẦU HẾT THẢY BỒ TÁT CÙNG TRỢ GIÚP

Xin xem kinh văn:

Như thị Địa Tạng Bồ tát, hữu như thử bất khả tư nghị đại oai thần lực quảng lợi chúng sanh, nhữ đẳng chư Bồ tát đương ký thị kinh, quảng tuyên lưu bố.

Bồ tát Địa Tạng có đại oai thần lực chẳng thể nghĩ bàn, làm lợi ích rộng lớn cho chúng sanh như thế. Những bậc Bồ tát quý vị phải ghi nhớ kinh này và tuyên truyền lưu bố rộng ra[68].

Đức Phật ở nơi đó dùng cơ hội giáo dục. Hôm nay, những Bồ tát tham dự hội này quá nhiều, đức Phật Thích Ca muốn sau khi ngài viên tịch, giao phó sứ mạng giáo hóa chúng sanh cho Địa Tạng Bồ tát, đồng thời cũng yêu cầu những Đại Bồ tát này cùng chung trợ giúp. Mời Địa Tạng Bồ tát dẫn đầu, hết thảy chư Bồ tát phải giúp đỡ ngài, nên làm cho ngài hiểu rõ sự việc này. Công việc này là việc làm lợi ích rộng lớn cho chúng sanh, hết thảy chư Phật, Bồ tát đều có nguyện vọng này, nên bất cứ người nào dẫn đầu đều được cả. Ngài dẫn đầu, chúng ta ở kế bên trợ giúp, dốc toàn tâm toàn lực để ủng hộ, công đức hoàn toàn là bình đẳng. Chỉ là duyên của mỗi cá nhân chẳng giống nhau, trừ duyên ra thì hết thảy đều bình đẳng.

Khi hiểu thấu đạo lý này rồi thì bạn mới vui vẻ tu tập “Tùy hỷ công đức”. Vả lại nói cho chư vị biết, công đức tùy hỷ đều viên mãn. Thí dụ công đức của một người làm việc suốt mấy mươi năm, chúng ta đến chỗ đó nhìn thấy liền tùy hỷ, sanh tâm hoan hỷ thì công đức mấy mươi năm của người đó mình hoàn toàn đạt được. Tại sao vậy? Trong chân tâm không có giới hạn, nó bình đẳng, một được thì hết thảy đều được. Tại sao phần đông người ta không đạt được? Vì trong tâm họ có giới hạn, họ nghĩ ông ấy làm chẳng phải tôi làm, tôi chẳng có làm. Thế nên cái được này của họ rất có hạn. Tự mình vạch rõ ranh giới, thì đâu còn cách gì nữa? Tự giới hạn mình, thế thì hư hết! Phía trước có nói đến tâm chí thành, một niệm chí thành, trong tâm ấy không có giới hạn, trong tâm ấy thanh tịnh, bình đẳng. Dùng tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng mà tùy hỷ thì công đức bạn đạt được sẽ viên mãn. Chúng ta ngày nay nếu thật sự dùng tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng để tùy hỷ thì công đức của Địa Tạng Bồ tát tu được từ vô lượng kiếp chúng ta đều đạt được rất viên mãn, vậy thì làm sao chúng ta không cảm kích cho được! Ngài đã tu hành nhiều đời nhiều kiếp, tu hành vô lượng kiếp, chúng ta hoàn toàn chẳng phí công phu liền đạt được.

Nếu hỏi tại sao bạn có thể đạt được hoàn toàn? Vì tâm chúng ta cùng tâm của Địa Tạng Bồ tát là một tâm, một tánh, chẳng phải hai. Mười phương ba đời chư Phật cùng chung một pháp thân, pháp thân tức là tự tánh, tự tánh vốn sẵn đủ. Không những công đức của Địa Tạng Bồ tát tu được, mười phương ba đời hết thảy chư Phật, Bồ tát tu được cũng chính là mình tu được. Vấn đề là bạn dám đảm đương hay không? Bạn dám tiếp nhận hay chăng? Chân chánh thông suốt, hiểu rõ đạo lý này, hết thảy chư Phật là tự tánh chư Phật, hết thảy Bồ tát là tự tánh Bồ tát, hết thảy cõi nước Phật là tự tánh Tịnh độ. Không phải trong kinh đã nói rõ ràng với bạn rồi hay sao?

“Duy tâm tịnh độ, tự tánh Di Đà”, Di Đà là tự tánh, có một vị Phật Như Lai nào chẳng phải tự tánh biến hiện nên? Có vị Bồ tát nào chẳng phải tự tánh hiện nên? Tự tánh hiện, tự tánh tu, tự tánh thành tựu, hết thảy đều quy về tự tánh, nếu bạn nhìn thấy tự tánh thì hết thảy đều đạt được, nguyên lý là như vậy. Khi chúng ta thật sự rõ ràng, thật sự minh bạch rồi thì lòng tin của chúng ta mới có thể xây dựng, chân tâm thuần thiện, tâm ấy chẳng có mảy may ác niệm, sẽ hiện tiền. Phần đông người ta tu học, trong kinh nói chí tánh vô định. Đó là gì? Chẳng hiểu rõ chân tướng sự thật, lòng tự tin của họ chẳng có cách chi xây dựng được. Thế nên đức Phật trong kinh này nói phải gặp thiện tri thức, thiện tri thức giảng giải, nói rõ sự việc này ra thì lòng tự tin của bạn mới có thể xây dựng, “lòng tin là cội nguồn của đạo, là mẹ của các công đức”[69], đây là một việc khó nhất.

Thế nên đức Phật phó chúc những Đại Bồ tát này phải làm thiện tri thức cho chúng sanh, “nhữ đẳng chư Bồ tát”, Định Tự Tại Vương Bồ tát trong hội này là Đẳng giác Bồ tát. “Đương ký thị kinh, quảng tuyên lưu bố”, quý vị phải ghi nhớ bộ kinh này, phải tuyên nói rộng rãi cho hết thảy chúng sanh, lưu thông rộng rãi. “Bố” là ban bố, ban cơ duyên này cho hết thảy chúng sanh. Thế Tôn ở Đao Lợi thiên cung phó chúc, chúng ta tin tưởng sâu xa, vô lượng vô biên Bồ tát tham dự trong hội này nhất định sẽ y giáo phụng hành. Họ chẳng phải là người thường, đều là Đại Bồ tát, đều là Ma ha tát trong các vị Pháp thân Đại sĩ, đâu phải là người phàm, đâu có lý nào không hoằng dương, tuyên giảng kinh Địa Tạng?

Công đức của kinh Địa Tạng có thể làm cho hết thảy những chúng sanh tạo tội cực nặng đều quay về, chẳng đọa ba đường ác, hưởng phước báo nhân thiên lâu dài, đây là công đức lợi ích của kinh này, nghiêng về phương diện này. Kinh Vãng Sanh[70]  là để độ cho chúng sanh có căn tánh chín muồi, kinh Địa Tạng là để độ chúng sanh căn tánh chưa chín muồi. Những chúng sanh này chưa muốn thoát ly Tam giới, còn chưa muốn làm Phật Bồ tát, niệm niệm chỉ nghĩ đến phước báo nhân thiên, số người như vậy chiếm đại đa số. Nếu bạn chẳng tin thì hãy ra đường đi thăm dò, bạn hãy hỏi nguyện vọng của người ta là gì? Người nào cũng nghĩ đến phước báo nhân thiên. Thế nên trong kinh Địa Tạng đặc biệt nói rất nhiều về phước báo nhân thiên, chúng ta biết dụng ý của kinh ở chỗ nào.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 12, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

25. CHỈ CÓ KINH ĐỊA TẠNG CÙNG KINH VÔ LƯỢNG THỌ

Chúng ta xem tiếp kinh văn:

Ngã đẳng thiên vạn ức Bồ tát Ma ha tát, tất năng thừa Phật oai thần quảng diễn thị kinh, ư Diêm Phù Đề lợi ích chúng sanh.

Ngàn vạn ức Bồ tát Ma ha tát chúng con, đều có thể nương oai thần của Phật mà tuyên diễn rộng rãi kinh này nơi cõi Diêm Phù Đề để lợi ích cho chúng sanh[71].

Số lượng Bồ tát chúng trong hội dùng “thiên vạn ức” để hình dung. “Bồ tát” là Bồ tát quả vị Tam hiền, “Ma ha tát” là Bồ tát quả vị Thập thánh, Tam hiền Thập thánh[72]. Ở nơi đây chúng ta phải đặc biệt chú ý đến “Diêm Phù Đề”, mười phương vô lượng vô biên thế giới, đặc biệt thiên về Diêm Phù Đề. Định Tự Tại Vương Bồ tát thay mặt vô lượng Bồ tát đại chúng trong hội, trước mặt Thế Tôn tiếp nhận lời phó thác của đức Phật Thích Ca. “Tất năng thừa Phật oai thần”, câu này rất quan trọng, chúng ta không thể xem thường, đây là biểu hiện cho sự khiêm hạ. Bồ tát giáo hóa chúng sanh chắc chắn sẽ được Phật lực gia trì, chẳng phải tự mình có năng lực làm, mà được Phật lực gia trì. Nói thật ra đây đều là Đẳng Giác Bồ tát, các ngài đương nhiên có thể giảng kinh, có thể thuyết pháp, có thể độ chúng sanh khổ nạn, cách làm như vầy đều là làm cho chúng ta xem, dạy chúng ta nhún nhường, lễ kính, khiêm nhường và cung kính là tánh đức chân thật.

“Quảng diễn thị kinh ư Diêm Phù Đề, lợi ích chúng sanh”, nói thật ra phạm vi lợi ích hoằng dương kinh này là tận hư không trọn khắp pháp giới, tại sao lại hạn cuộc trong Diêm Phù Đề? Diêm Phù Đề là chỉ địa cầu của chúng ta ngày nay, tại sao phạm vi nhỏ như vậy! Nên biết lần này đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện tại Diêm Phù Đề, nói Diêm Phù Đề tức là nói tận hư không trọn khắp pháp giới, quan hoài yêu mến giúp đỡ chúng sanh ở Diêm Phù Đề cùng hết thảy chúng sanh ở mười phương thế giới chẳng có sai khác, đều bình đẳng giống nhau, là ý nghĩa này chứ chẳng phải là thiên vị chỉ yêu mến Diêm Phù Đề không thôi, nghĩ vậy là sai. Nói đến đây cũng như đại sư Thiện Đạo đã nói: “Gặp duyên chẳng giống nhau”. Hôm nay vận may của chúng sanh ở Diêm Phù Đề thật là rất tốt, rất may mắn gặp được duyên này. Tuyệt đối chẳng phải Phật, Bồ tát thiên vị, ở địa phương này duyên chín muồi, duyên chín muồi thì được độ trước.

Pháp duyên của chúng ta cũng vậy, mấy chục năm nay có thể nói từ khi tôi vừa xuất gia liền đặc biệt ưa thích Hoa Nghiêm, bộ kinh sách tôi thỉnh đầu tiên chính là Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao, là một vị lão cư sĩ cúng dường cho tôi. Lúc đó thật sự chẳng đơn giản, bộ sách này giá rất cao, từ pháp sư Trí Khai ở Hương Cảng, Hương Cảng Phật Kinh Lưu Thông Xứ thỉnh về một bộ, hiện nay đã in lại rồi quý vị đều có hết. Nguyên bản hồi đó là bốn mươi cuốn đóng theo cách xỏ chỉ, tôi giữ bản này đã hơn ba mươi mấy năm rồi. Tôi đã giao nguyên bản của bộ này cho Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội cho họ làm bản gốc. In lần này rất rõ, rất tốt, nhưng không đẹp lắm, tôi chẳng ở Đài Loan, họ in bìa giấy thường, nếu tôi ở Đài Loan thì nhất định sẽ kêu họ in bìa giấy cứng. Nhưng như vậy cũng khá lắm rồi, có bản in tốt đẹp như vậy.

Tôi ưa thích Hoa Nghiêm, thích đọc Hoa Nghiêm, thích tương lai có cơ duyên giảng Hoa Nghiêm, nhưng duyên này chưa chín muồi. Ở Đài Loan đã giảng một thời gian nhưng bị gián đoạn hoài, vì thường nhận lời mời từ nước ngoài, ra ngoại quốc giảng kinh thì phải gián đoạn, nên kinh này đã giảng rồi ngưng, ngưng rồi giảng ở Đài Loan hết mười bảy năm, mới giảng được phân nửa. Chẳng ngờ ở nơi đây nhân duyên chín muồi, thật là chẳng ngờ. Nơi đây duyên chín muồi rồi chúng ta ở đây phải làm hết lòng, cho nên Phật pháp cũng là nhân duyên sanh. Tâm chúng ta thanh tịnh, bình đẳng, ở bất kỳ nơi nào trên thế giới duyên chín muồi thì chúng ta đều làm như vậy, tuyệt chẳng nói là thiên vị một nơi nào cả. Lòng nhiệt thành của chúng ta bình đẳng, từ bi, bác ái, yêu mến nơi này, đối với những nơi khác duyên chưa chín muồi thì chúng ta cũng yêu mến, nhiệt thành giống nhau, tuyệt đối chẳng nói chỗ này hơn một chút, chỗ kia ít một chút, chắc chắn là không phải như vậy.

Chư vị đồng tu tương lai tu học cũng vậy, nhất định phải xây dựng trên cơ sở của thanh tịnh, bình đẳng, giác để quảng diễn đại kinh. Nói thật ra ngày nay chân chánh có thể cứu thế gian này chỉ có kinh Vô Lượng Thọ và kinh Địa Tạng. Duyên của Hoa Nghiêm vô cùng hy hữu, vô cùng khó được, chúng ta có thể học tập. Tương lai sau này Phật pháp hưng vượng, quốc gia hưng vượng thì Phật pháp chắc chắn sẽ hưng vượng. Khi Phật pháp hưng vượng chúng ta tin tưởng sẽ có rất nhiều cơ duyên, tới lúc đó phải có người giảng. Ở đây chúng tôi giảng Hoa Nghiêm một lần cho chư vị tham khảo, làm một cơ sở để sau này từ cơ sở này chư vị có thể phát huy rộng ra, lợi ích hết thảy chúng sanh.

Đức Thế Tôn phó chúc những Đại Bồ tát này, chúng ta phải mạnh dạn đảm nhận, chúng ta cũng phải nhập vào pháp hội của họ, trở thành một phần tử của đại hội, như vậy sẽ có vô lượng công đức. Muôn vàn xin đừng cho mình là một người ngoài, chẳng liên can gì với đại hội, vậy thì chúng ta sai rồi. Một phần công đức lợi ích thù thắng trong ấy bạn cũng chẳng đạt được, phải khẳng định mình là một phần tử trong đại hội. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni phó chúc những Đại Bồ tát này, cũng là phó chúc chính mình, mình cũng là một trong chư Đại Bồ tát. Như trong kinh Hoa Nghiêm đã nói, Đại tâm chúng sanh tuy chưa đoạn phiền não nhưng chính là bậc đương cơ của pháp hội Hoa Nghiêm. Hội kinh Địa Tạng cũng vậy, nếu chúng ta là Đại tâm phàm phu thì chúng ta cũng có thể thân cận Bồ tát Ma ha tát, cũng có thể gia nhập đoàn thể của họ.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 12, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

26. PHÁP MÔN ĐỘ CHÚNG SANH TRONG CHÍN NGÀN NĂM MẠT PHÁP

“Quảng lợi ích cố”, lợi ích rộng lớn khi giảng Địa Tạng pháp môn, tuyên dương Địa Tạng pháp môn, duy chỉ có Địa Tạng pháp môn mới có thể độ thoát chúng sanh trong chín ngàn năm Mạt pháp. Đạo lý của Nho gia, Đạo giáo, Phật giáo Đại thừa rất tốt nhưng hiện nay chẳng có người chịu nghe, chịu tiếp nhận. Có thể niệm kinh một lần cũng kể là hay lắm rồi, có thể làm theo kinh thì chẳng có một ai. Địa Tạng pháp môn là pháp môn căn bản, do đó nhiều năm trước tôi đi giảng ở những thành phố lớn dọc miền đông nước Mỹ, giảng đại ý kinh Địa Tạng. Vì thời gian ngắn, mỗi nơi chỉ có bảy ngày, chẳng có cách chi giảng kinh, chỉ có thể giảng đại ý.

Có một số đồng tu hỏi tôi: “Pháp sư chuyên hoằng Tịnh độ thì tại sao lại giảng kinh Địa Tạng? Không phải đã xen tạp môn khác rồi sao?”.

Họ hỏi rất đúng. Tôi nói: “Thiện tai, thiện tai, hỏi hay lắm! Tôi vẫn đang giảng Tịnh Độ, vẫn chuyên tu chuyên hoằng”.

Họ nói: “Kinh Địa Tạng là gì?”.

Tôi nói: “Kinh Địa Tạng là câu đầu tiên trong Tịnh độ tông”.

Họ hỏi: “Câu nào?”.

Kinh Quán Vô Lượng Thọ giảng về Tam phước, mọi người đều biết, là cơ sở của sự tu hành trong Tịnh Tông. Trong Hạnh môn chúng ta đề xướng: Tam Phước, Lục Hòa, Tam Học, Lục Độ, Phổ Hiền Thập Nguyện, mọi người đều biết cả. Bộ kinh Địa Tạng này chính là phước thứ nhất trong Tam phước: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu mười nghiệp thiện”. Các bạn nghĩ xem kinh Địa Tạng có phải giảng về sự việc này hay không? Tôi vẫn giảng về Tịnh độ, chẳng tách lìa, vẫn chuyên tu, chuyên hoằng. Nói vậy nên mọi người đều hiểu, bộ kinh này giảng kỹ về bốn câu trên.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 13, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

27. NGÀI ĐỊA TẠNG BỒ TÁT LÀ NHÂN VẬT NHƯ THẾ NÀO?

Mời mọi người xem tiếp kinh văn:

Địa Tạng đáp ngôn: “Nhân giả, ngã kim thừa Phật oai thần cập Đại sĩ chi lực, lược thuyết địa ngục danh hiệu cập tội báo ác báo chi sự”.

Ngài Địa Tạng đáp rằng: “Thưa Nhân giả, nay tôi nương oai thần của đức Phật cùng oai lực của Đại sĩ mà lược nói danh hiệu của các địa ngục, cùng những sự tội báo và ác báo”[73].

Ở đây chúng ta phải học tập, người hiện nay hơn phân nửa đều cuồng vọng tự đại, sau khi học được của người khác cũng không chịu thừa nhận, còn mắng người ta: “Đây là của tôi, chẳng phải của họ”. Vậy thì sẽ có tội! Bạn hãy xem Địa Tạng Bồ tát là nhân vật như thế nào? Chúng ta xem pháp hội này, phía trước mọi người đều thấy, mười phương chư Phật đều đến tham dự pháp hội này. Chư Phật là người như thế nào? Đều là học trò của Địa Tạng Bồ tát trong những đời quá khứ, học trò ai cũng thành Phật cả rồi, thầy còn làm Bồ tát, thật là phi thường! Ngài chưa chịu thành Phật, muốn thành Phật thì quá đơn giản, đáng lý là đã thành Phật lâu rồi. Ngài ứng theo lời nguyện: “Địa ngục chẳng không, tôi thề chẳng thành Phật”. Thế nên chúng ta phải hỏi Địa Tạng Bồ tát có cơ hội làm Phật không? Chẳng có! Địa ngục vẫn còn người thì ngài phát tâm chưa thành Phật, ngài phải làm Bồ tát để giúp đỡ những chúng sanh trong địa ngục. Bạn xem đây là thân phận gì? Ngài nói chuyện rất khiêm nhường, rất khách sáo.

“Nhân giả” là tôn xưng đối với Bồ tát, nghĩa là người nhân từ. Ngài chẳng nói ngài có khả năng để trả lời, “ngã kim thừa Phật oai thần”, nhờ Phật gia trì. Không những nhờ Phật gia trì mà còn mong nhờ sự gia trì của Phổ Hiền Bồ tát. “Cập Đại sĩ chi lực”, chữ “Đại sĩ” này chỉ Phổ Hiền Bồ tát, trí huệ và đạo lực của Phổ Hiền Bồ tát cũng chẳng thể nghĩ bàn. Chư Phật gia trì, Phổ Hiền Bồ tát cũng gia trì, “lược thuyết địa ngục danh hiệu” sau đó báo cáo cho đại chúng về việc này. Chúng ta phải khiêm nhường, người hiện nay thật rất thích xa vời, viễn vông, tất cả đều muốn sáng tạo, làm mới. Nói chư vị thánh nhân thế gian và xuất thế gian đều chẳng có sáng kiến, chẳng có sáng tạo. Khổng Lão Phu tử nói cả đời ngài giảng học “thuật mà không sáng tác” (thuật nhi bất tác), ngài chẳng có sáng tác, những gì ngài nói đều là lời dạy của cổ thánh tiên hiền, ngài chẳng có sáng tác gì mới mẻ. Đức Phật Thích Ca nói với chúng ta, cả đời ngài, hết thảy pháp ngài giảng trong bốn mươi chín năm đều chẳng phải lời của riêng ngài, tự mình ngài chẳng sáng tác ra mà nói, đều là thuật lại lời của cổ Phật. Thế nên ngài nói rằng ngài chưa từng nói một câu pháp, hết thảy đều là lời của cổ Phật đã nói, chẳng có câu nào là ý riêng của ngài cả.

Khổng Lão Phu tử chỉ thuật lại chứ không sáng tác, đức Phật Thích Ca cũng thuật mà không tác. Chúng ta là lớp người đời sau, người đời sau có sáng tác? Thật là phi thường! Thế nên những điển tịch của đức Phật Thích Ca chẳng có bản quyền, đều là của người khác, chẳng phải của mình, ngài làm sao có bản quyền cho được? Người đời nay thật là phi thường, tự mình có sáng tác, có bản quyền! Chúng ta phải học tập, học cho chắc thật; thái độ học tập của Thế Tôn và Khổng Lão Phu tử rất đúng đắn, như vậy mới tương ứng với tâm tánh, tương ứng với tánh đức, cho nên quý ngài xử sự, đãi người, tiếp vật đều vô cùng khiêm nhường. Khổng Tử biểu hiện “tự ty và tôn trọng người khác”, chúng ta đọc trong sách thấy Khổng Tử đối với kẻ bần cùng hạ tiện cũng rất tôn kính, chẳng dám khinh mạn. Đâu có bao giờ nói tự mình cảm thấy cao quý tự đại, coi thường kẻ khác, chúng ta chẳng thấy trong cả đời hành nghị của Khổng Tử. Đức Phật thì chẳng cần phải nói nữa.

Cống cao ngã mạn là đại phiền não, chỉ cần có tâm niệm này thì Phật pháp một phần cũng chẳng thâm nhập được; đó là chướng ngại, tự mình chướng ngại cho mình. Tham, sân, si, mạn, nghi, sau đó là ác kiến, tức là thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến, hợp lại gọi là ác kiến, sáu phiền não căn bản tức là những thứ này. Sáu thứ phiền não căn bản là chướng ngại lớn nhất, tại sao chúng ta học Phật không thể khế nhập? Chúng ta đọc kinh tại sao không thể khai ngộ? Chẳng biết tự mình có sáu thứ chướng ngại này, chẳng biết. Trong sáu thứ chướng ngại này mà bạn có một thứ thì bạn chẳng thể thấy đạo, đừng nói là chứng đạo, thấy cũng thấy không được. Diệt trừ hết sáu chướng ngại này thì bạn mới thấy đạo vị. Thế nên chúng ta muốn đạt được lợi ích chân thật của Phật pháp, không đoạn trừ sáu chướng ngại này thì làm sao được? Thật sự đoạn trừ, trong Niệm Phật đường, vị đường chủ thường thường nhắc đại chúng buông xuống hết thảy thân tâm thế giới, buông xuống được tức là sáu thứ này cũng xả bỏ hết, sáu thứ này chính là thân tâm thế giới, không buông xuống thì không được!

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 15, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

28. PHÁP LUÂN CĂN BẢN CỦA TOÀN THỂ PHẬT PHÁP

Câu “xuất đại âm thanh”[74] mà đức Phật nói với chư vị Bồ tát chính là vì công việc trọng đại lưu thông bộ kinh này. Nói thật ra trong Phật pháp, bộ kinh này cũng là căn bản pháp luân. Hoa Nghiêm gọi là căn bản, căn bản của cả Phật pháp, căn bản của hết thảy sự giáo học của chư Phật Như Lai. Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh là căn bản của chỗ chúng sanh khởi tu, bạn bắt đầu tu từ đâu? Phải bắt đầu tu từ kinh này thì bạn mới có thể nhập cảnh giới của quả địa Như Lai. Thế nên đức Phật ở đây dùng đại âm thanh nói với trọn hư không pháp giới, hết thảy Bồ tát Ma ha tát trong hết thảy cõi nước chư Phật. Bồ tát là người đã giác ngộ, phải nên gánh vác sứ mạng hoằng kinh, hộ kinh.

Làm sao hộ? Y giáo phụng hành tức là hộ kinh, nếu chúng ta đến khắp nơi tuyên dương, giới thiệu kinh này cho đại chúng, tự mình chẳng làm, chẳng hết lòng tu thì đó là phước đức. Quả báo của việc này là phước báo hữu lậu thế gian, bạn chỉ tu phước. Nếu bạn y giáo phụng hành, rồi lần lượt dạy kẻ khác thì việc này là công đức. Trong công đức có phước đức, trong phước đức chẳng có công đức, việc này chúng ta đã nói qua rất nhiều lần rồi.

Ở đây Thế Tôn khuyên hết thảy Bồ tát Ma ha tát, ngày nay chúng ta may mắn được thân người, được nghe Phật pháp, càng may mắn hơn là có thể xuất gia tu hành trong Phật pháp, làm đệ tử Phật, làm học trò của Phật. Phật có thừa nhận học trò này không? Việc này hoàn toàn phải coi chính mình. Nếu ba nghiệp thân, khẩu, và ý của chính chúng ta tương ứng với lời giáo huấn của Phật, thì Phật khẳng định sẽ thừa nhận chúng ta là học trò của ngài. Nếu ba nghiệp thân, khẩu, và ý chẳng tương ứng với lời giáo huấn của đức Phật, tuy chúng ta nói là học trò của đức Phật, hình tướng hiện ra hôm nay cũng thế độ, mặc áo tràng, đắp y và cũng thọ giới, nhưng Phật, Bồ tát chẳng thừa nhận. Chẳng thừa nhận, thân phận này là do đại sư Thiên Thai nói ra, gọi là “Danh tự Tỳ kheo”, có danh chẳng có thật. Tên là Sa môn, là người xuất gia đều chẳng phải là thật. Rất đáng cho chúng ta phản tỉnh sâu xa, khi đã xuất gia rồi thì nhất định phải làm một Phật tử có danh phù hợp với thật, chúng ta có sứ mạng phải hoằng dương bộ kinh này.

Muốn hoằng dương kinh này thì nhất định phải tu học kinh này, rất nhiều bạn đồng tu học giảng kinh, ở đây hoặc ở chỗ khác tôi thường thường gặp một số pháp sư trẻ tuổi đến hỏi: “Làm thế nào mới giảng kinh giỏi?”. Những người này cứ tưởng tôi giảng kinh mấy chục năm có một chút kinh nghiệm, họ đề ra vấn đề này rất là hy hữu. Nếu thật sự muốn giảng kinh giỏi và hay, nhất định phải tu hành y theo lời dạy; bạn chân thật tu hành mới có tâm đắc, chúng ta hiện nay gọi là tâm đắc, trong Phật pháp gọi là chỗ ngộ. Nếu bạn chẳng chân tu thì chẳng có chỗ ngộ, duy chỉ có làm thật sự mới có chỗ ngộ. Bạn ngộ được càng sâu thì đương nhiên bạn sẽ giảng càng hào hứng.

Nếu bạn chẳng ngộ, chỉ coi chú giải của người khác, đó là dựa vào nguyên bản, nói theo lớp lang, hoàn toàn là của người khác, chẳng liên quan gì với mình, thì bạn làm sao giảng hay được? Bạn có thể giảng chú giải cho thật thuộc, thật lưu loát, hoa trời rơi lả tả, có nội dung thật tế gì không? Chẳng có! Những gì đã giảng hoàn toàn là bề ngoài, trên hình tướng, một phần cũng chẳng thấu sâu vào. Bạn vào càng sâu, sức mạnh phát ra tự nhiên sẽ chẳng tương đồng. Thế nên quy kết đến cùng phải chân tu thì bạn mới thật sự giảng hay, kiến giải, tư tưởng, và tâm hạnh của bạn tương ứng cùng Phật, làm sao giảng không hay được! Năm đức trong âm thanh của Ðại Phạm Thiên vương bạn cũng có thể có đủ.

Lúc sơ học chúng ta chẳng giác ngộ, chẳng ngộ nhập, bắt đầu học thì phải học từ đâu? Từ chân thành. Có vậy mới có cảm ứng, có thể được Phật, Bồ tát gia trì, giúp đỡ bạn ngộ nhập. Nếu tâm bạn chẳng chân thành thì không có cách chi, chân thành chẳng có mảy may tướng hư ngụy. Không những khi đọc kinh, giảng kinh mới chân thành, khi lên giảng đài thì chân thành, bước xuống thì hư ngụy, như vậy được không? Không được! Chư vị phải biết một chân thì hết thảy đều chân, chúng ta chỉ có một tâm chân thành, đối với Phật, Bồ tát là tâm này, đối với hết thảy chúng sanh cũng là tâm này, như vậy thì bạn mới ngộ nhập. Nếu bạn còn dùng hai tâm thì chắc chắn không thể ngộ nhập. Không những không thể ngộ nhập cảnh giới của Phật, nói thật ra bạn đối với những tình trạng trước mắt cũng chẳng thể hiểu rõ. Ðây là điều các bạn đồng học phát tâm học giảng kinh, phát tâm tiếp nối huệ mạng của Phật, hoằng pháp lợi sanh không thể không biết.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 18, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

29. RỘNG LẬP PHƯƠNG TIỆN GIỮ GÌN BẢO VỆ BỘ KINH NÀY

Xin xem kinh văn:

Ngô diệt độ hậu nhữ đẳng chư Bồ tát Đại sĩ, cập thiên long quỷ thần đẳng, quảng tác phương tiện vệ hộ thị kinh. Lịnh nhất thiết chúng sanh chứng Niết bàn lạc.

Sau khi Ta diệt độ thì hàng Bồ tát, Đại sĩ các ông cùng với trời, rồng, quỷ, thần, v.v… nên dùng nhiều phương tiện để giữ gìn bảo vệ kinh này, khiến tất cả chúng sanh đều chứng được cảnh vui Niết bàn[75].

Trong đoạn này, đức Thế Tôn nói ra nguyện vọng của ngài đối với các bậc Bồ tát Ma ha tát, đặc biệt là sau khi ngài thị hiện diệt độ. Trong thời gian Phật chẳng trụ thế thì chúng sanh sẽ khổ, mê hoặc điên đảo, tạo hết thảy tội nghiệp, chẳng có người dạy họ. Do đó Phật phải phó chúc những Bồ tát này “hàng Bồ tát, Đại sĩ các ông”, “Đại sĩ” thông thường là chỉ Địa thượng Bồ tát[76], chỉ Đẳng Giác Bồ tát nhiều nhất. “Thiên long quỷ thần” trên thật tế đều là Phật, Bồ tát ứng hóa, nếu chẳng phải là Bồ tát ứng hóa, thật là thiên long quỷ thần thì họ đều là phàm phu, rất khó hiểu được lời dạy của Phật. Phật dạy họ phải “dùng nhiều phương tiện, giữ gìn bảo vệ kinh này”. Kinh Duy Ma nói rất hay: “Nếu chẳng có phương tiện”, phương là phương pháp, tiện là tiện nghi. Nếu bạn chẳng có phương tiện thì dù có trí huệ bạn cũng chẳng thể phát huy. Cũng như người thật có học vấn, có trí huệ, chẳng có khẩu tài, lên giảng đài chẳng giảng được, nhưng họ viết văn rất hay. Chúng tôi đã gặp những người như vậy, viết văn chương thật hay, lên giảng đài nói không được, dạy học không được, họ chẳng thể dùng ngôn ngữ biểu đạt ý tứ được.

Thuyết pháp cần có biện tài vô ngại, muốn có biện tài thì cũng mong cầu Phật, Bồ tát gia trì, làm thế nào mới được Phật, Bồ tát gia trì? Vẫn chỉ là sự cảm ứng của lòng chân thành: Tôi vì chúng sanh, chẳng vì mình thì sẽ được Phật, Bồ tát gia trì. Một số người cầu Phật, tại sao cầu chẳng được cảm ứng? Khi cầu Phật, Bồ tát, tuy vì chúng sanh nhưng vẫn còn vì mình, chín mươi chín phần trăm vì chúng sanh, nhưng còn một chút vì mình thì sẽ chẳng được cảm ứng. Huống chi hiện nay phần đông người hoằng pháp lợi sanh, nói đại khái chín chục phần trăm vì mình, mười phần trăm vì chúng sanh, chắc là tỷ lệ như vậy, phân nửa – phân nửa cũng rất hiếm, vậy thì làm sao có cảm ứng cho được? Những sự thật này, hy vọng các vị đồng tu phải quan sát và thấu hiểu kỹ càng. Trong đời Mạt pháp, nghiệp chướng của chúng ta rất nặng, nếu chẳng được Tam bảo gia trì, nhất định sẽ chẳng có năng lực giảng kinh, đây là chuyện rất thật tế. Trong kinh nói ngay cả Địa Tạng Bồ tát thuyết pháp cũng phải “nương nhờ oai thần của Phật” gia trì, huống chi là phàm phu chúng ta? Chúng ta phải hiểu đạo lý này, cho nên nếu không có phương tiện khéo léo thì chúng ta chẳng có năng lực biểu đạt và tỏ lộ ý nghĩa thậm thâm của kinh làm cho người sơ học nghe dễ hiểu.

Phật ở đây khuyên Bồ tát, nói thật ra cũng là khuyên chúng ta, kinh này đối với xã hội hiện giờ, đối với chúng sanh đời Mạt pháp vô cùng quan trọng! Trong mấy chục năm giảng kinh, tôi thường khuyến khích mọi người, trong sự tu học Phật pháp Đại thừa, Địa Tạng là cơ sở, Địa là tâm địa, người hiện nay chúng ta gọi là xây dựng tâm lý, cho nên trong kinh này nói những gì? Xây dựng tâm lý, đây là căn bản. Từ bộ kinh này mới có thể sanh ra lòng yêu thương rộng lớn (đại ái), người hiện nay gọi là “bác ái”, hai chữ bác ái này lấy từ kinh Vô Lượng Thọ. Phật pháp nói về đại từ đại bi, đại từ đại bi sanh khởi từ đâu? Từ trong kinh này sanh khởi, do đó kinh này là căn bản. Nội dung kinh này nói về Hiếu thân tôn sư, dùng Hiếu đạo làm cơ sở, cho nên hết thảy pháp đều sanh từ Hiếu đạo, nội dung của kinh này là đại hiếu. Từ hiếu sanh khởi từ bi, trong từ bi sanh ra trí huệ, từ bi là phước, phước chí tâm linh, từ trong trí huệ mới chân chánh phát khởi đại tâm phổ độ hết thảy chúng sanh.

Sau cùng nói “làm cho hết thảy chúng sanh chứng được cảnh vui Niết bàn”, Niết bàn là thật, chẳng giả, Niết bàn là chẳng sanh chẳng diệt, ý nghĩa của Niết bàn là cứu cánh viên mãn, chẳng có một tí gì khiếm khuyết. Cho nên đức Phật ở đây khuyên dạy mọi người nhất định phải rộng làm phương tiện, giữ gìn bảo vệ lưu thông, vả lại còn phải chú trọng hiệu quả. Nhất định phải giúp đỡ mọi người hiểu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sanh, sau đó đoạn dứt hết thảy ác, tu hết thảy thiện, vĩnh viễn chẳng đọa tam ác đạo, thoát lìa khổ hải. Trong thời đại này muốn thật sự lìa khổ được vui, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển thì không cầu sanh Tịnh độ không được. Nếu không cầu sanh Tịnh độ, trong vị thứ của Bồ tát còn bị thoái chuyển, thoái chuyển là một chuyện phiền phức rất lớn, đây là khuyên chúng ta niệm Phật, đạo lý là ở chỗ này.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 18, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

30. PHƯƠNG PHÁP NUÔI DẠY CON Ở TRONG KINH ĐỊA TẠNG

Xin xem kinh văn:

Phục thứ Phổ Quảng, nhược vị lai thế trung Diêm Phù Đề nội, Sát lợi Bà la môn trưởng giả cư sĩ nhất thiết nhân đẳng, cập dị tánh chủng tộc hữu tân sản giả, hoặc nam hoặc nữ thất nhật chi trung, tảo ư độc tụng thử bất tư nghị kinh điển, cánh vi niệm Bồ tát danh khả mãn vạn biến, thị tân sanh tử hoặc nam hoặc nữ, túc hữu ương báo tiện đắc giải thoát, an lạc dị dưỡng thọ mạng tăng trưởng, nhược thị thừa phước sanh giả chuyển tăng an lạc cập dữ thọ mạng.

Lại nữa, này Phổ Quảng, nếu trong đời vị lai, nơi cõi Diêm Phù Ðề, trong hàng Sát đế lợi, Bà la môn, trưởng giả, cư sĩ, hết thảy các người và những chủng tộc dòng họ khác, có người mới sinh được con trai hoặc con gái, trong vòng bảy ngày, sớm vì đứa trẻ đó mà tụng kinh điển không thể nghĩ bàn này, lại vì đứa trẻ mà niệm danh hiệu của Bồ tát đủ một vạn biến, thì đứa trẻ mới sinh đó, hoặc trai hoặc gái, nếu đời trước có ương báo thì đều được giải trừ, lại thêm yên ổn, vui vẻ, dễ nuôi, thọ mạng tăng trưởng, còn nếu nương nơi phước lực mà thọ sanh, thì nó càng được an vui hơn và sống lâu hơn[77].

Đây là dạy lúc sanh sản phải nên làm như thế nào để tu phước. Sự việc này, vệ sinh, thuốc men hiện nay phát triển hơn lúc trước, tình huống tốt hơn lúc trước rất nhiều. Thời xưa, đặc biệt là những vùng nông thôn lạc hậu, sanh con là một việc lớn liên quan đến tánh mạng. Do đó đức Phật ở đây đặc biệt nêu ra, dạy chúng ta cách làm thế nào tu học, làm sao cho mẹ con được bình yên. Đức Phật trong kinh dạy chúng ta, quan hệ giữa người trong nhà vô cùng mật thiết, chắc chắn là có nhân duyên sâu xa, chẳng phải ngẫu nhiên mà tụ hợp. Nhân duyên vô cùng phức tạp, Phật quy nạp những nhân duyên phức tạp này thành bốn loại lớn, đó là như trong kinh thường nói: “Báo ân, báo oán, đòi nợ, trả nợ”, cho nên mới tụ lại thành người một nhà.

Cha con, anh em, chị em đều chẳng rời những quan hệ này, do nhân duyên đời trước nên mới thành người một nhà, ngạn ngữ thường nói: “Chẳng phải oan gia thì chẳng đụng đầu”, lời này rất có đạo lý. Nhưng sau khi giác ngộ, người trong nhà của bạn biến thành quyến thuộc trong pháp, như vậy rất tốt, rất thù thắng. Chẳng giác ngộ thì người trong nhà tụ lại để ân oán báo đền lẫn nhau, đó gọi là khổ chẳng nói nổi. Rốt cuộc thì báo ân rất ít, báo oán lại nhiều, trả nợ thì ít, đòi nợ thì nhiều, cho nên cả đời người thế gian xảy ra những chuyện chẳng như ý nhiều như cơm bữa, đây là sự thật mà chúng ta đã từng trải qua, đích thân nhìn thấy. Cho nên con cái sanh ra, nhất định phải hiểu nhân duyên đời trước của nó.

Quả báo đều là bình đẳng, bất luận giàu sang, nghèo hèn, trong kinh nói tới “Sát lợi”, trước kia ở Ấn Độ là hoàng tộc, “Bà la môn” là những nhà tôn giáo có địa vị cao trong xã hội, trưởng giả, cư sĩ đều có phước báo. Phía sau nói “hết thảy các người và những chủng tộc dòng họ khác”, phạm vi bao gồm rất rộng, bao gồm hết bốn dòng họ, giai cấp ở Ấn Độ[78], người Trung Quốc chúng ta gọi là nghèo, giàu, sang, hèn. Bất luận là thân phận nào, địa vị nào, sanh sản tuyệt chẳng thể tránh khỏi, hơn nữa sự đau khổ trong khi sanh sản đều bình đẳng, người giàu sang thì chăm sóc chu đáo một chút, người nghèo hèn thì chăm sóc tệ một chút. Nói tóm lại, nỗi khổ này chẳng thể nào tránh khỏi. Phật dạy chúng ta phương pháp “trong vòng bảy ngày sớm vì đứa trẻ đó mà đọc tụng kinh điển không thể nghĩ bàn này”, phải “sớm đọc”. Tốt nhất là nếu người trong nhà có tín ngưỡng Phật pháp, có thể tiếp nhận giáo huấn của đức Phật, nên đọc vào lúc nào? – Ngay lúc mang thai liền đọc!

Mỗi ngày đọc một bộ Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh, hoặc niệm một ngàn danh hiệu Địa Tạng Bồ tát, phải dùng tâm chân thành, cung kính để tụng niệm thì phước báo sẽ rất lớn. Cho dù đứa con trong thai đến để báo oán, là oán gia chủ nợ đến, nếu bạn có thể chăm sóc nó như vậy thì oán kết ấy sẽ được hóa giải. Bạn có ân đối với nó thì nó sẽ chẳng báo oán, nó sẽ đến cảm ơn, chuyển biến phải bắt đầu từ lúc ban đầu. Ở đây nói ít nhất phải là bảy ngày trước khi sanh, đương nhiên càng sớm thì càng tốt. Cho nên khi chúng ta hiểu đạo lý này, biết phương pháp này, tốt nhất là khi mang thai liền đọc, liền tu tập theo phương pháp này. Người làm mẹ, tâm bình khí hòa, chân thành cung kính, thanh tịnh bình đẳng, khởi tâm động niệm gì cũng tuyệt đối sẽ ảnh hưởng đến đứa bé trong thai. Dùng lý luận khoa học hiện nay để nói thì mọi người dễ hiểu hơn, đây thuộc về hiện tượng ba động (làn sóng).

Do đó có thể biết khi thần thức đến đầu thai, nó có niệm đầu (một niệm), nó có làn sóng, thế nên khi người mẹ khởi tâm động niệm, hết thảy cử chỉ đều ảnh hưởng đến bào thai, vì vậy người Trung Quốc thời xưa chú trọng thai giáo, đạo lý là như vậy. Chúng ta hiểu được thai giáo ghi trong sách xưa, trong đó có nói một số nguyên lý, nhưng nói chẳng rõ ràng, thấu triệt, đọc xong chúng ta nửa tin nửa ngờ, chẳng biết mức nghiêm trọng của ảnh hưởng thai giáo, chẳng biết được! Ngày nay chúng ta hiểu rõ chân tướng sự thật của “ba động” thì biết khởi tâm động niệm ảnh hưởng đến thai nhi rất nhiều, rất lớn, do đó người làm mẹ trong thời gian mang thai, khởi tâm động niệm đều là thiện, đều thanh tịnh, thì đứa bé trong thai nhận được lợi ích rất lớn, quá lớn! Người ta ai cũng hy vọng con cái của mình tốt lành, con hiếu cháu hiền. Làm sao dạy nó? Lúc mang thai, tự mình chúng ta phải hiếu thảo, phải tận hiếu, ba động của sự hiếu thảo ảnh hưởng tới đứa trẻ. Chúng ta tu tịnh, tu thanh tịnh, tu phước, vậy mới thật sự dạy nó gieo trồng hạt giống thanh tịnh, phước đức. Việc này chẳng phải là không có đạo lý, nhất định chẳng có mê tín.

Tại sao đức Phật dạy chúng ta đọc bộ kinh này? Kinh này là Hiếu kinh, tinh thần nói trong kinh này quy nạp vào bốn chữ “Hiếu thân tôn sư”, hiếu thuận cha mẹ tôn kính sư trưởng là căn bản của sự giáo học thế gian và xuất thế gian. Chúng ta tu học Phật pháp Đại thừa bắt đầu học từ đâu? – Từ kinh Địa Tạng, Địa là tâm địa, Tạng là là kho tàng. Bảo tàng trong tâm địa là gì? Vô lượng trí huệ, vô lượng đức năng; đức là phước đức, năng là năng lực kỹ thuật; vô lượng tài nghệ là kho báu vốn có trong tự tánh chúng ta, đó gọi là Địa Tạng. Kho báu chôn dưới đất, giống như ngày nay chúng ta gọi là kho vàng bạc, nếu không khai thác mà cứ chôn vùi dưới đất, tuy có nhưng chúng ta chẳng được thọ dụng. Bạn phải biết khai thác, dùng phương pháp gì để khai thác? Khai thác kho báu trong tự tánh nhất định phải dùng tánh đức, phải dùng công cụ này, tương ứng với nó thì mới khai phá được. Trong tánh đức, tánh thù thắng nhất chính là hiếu kính, thế nên hiếu kính mới có thể khai phát kho báu tự tánh. Tu học Phật pháp Đại thừa phải bắt đầu học từ đâu? Phải học Địa Tạng trước nhất, hạ thủ từ ngay chỗ này. Học Hiếu đạo trước, từ Hiếu đạo xây dựng Sư đạo, Phật pháp là Sư đạo, Sư đạo xây dựng trên cơ sở của Hiếu đạo.

Đoạn này nói niệm kinh Địa Tạng lúc sanh sản có lợi ích. Khi niệm kinh nếu có thể hiểu rõ lý luận, phương pháp, cảnh giới nói trong kinh thì sức mạnh càng thù thắng. Do vì bạn hiểu được, khi bạn đọc thì tùy văn nhập quán, lúc bình thường chúng ta không thể chuyển cảnh giới, ít nhất thì lúc đọc tụng có thể chuyển cảnh giới được một chút; bạn có thể chuyển một phần, hai phần cũng có hiệu quả, hiệu quả được tỏ lộ qua các làn sóng. Nếu thấu hiểu sâu hơn, lúc thường ngày có thể y giáo tu hành thì sức mạnh ấy chẳng thể nghĩ bàn. Phía sau nói về quả báo “thị tân sanh tử”, đứa bé mới vừa sanh, hoặc trai hoặc gái, “túc hữu ương báo, cánh đắc giải thoát”, nếu đời trước nó tạo tội nghiệp, đời này đến để thọ báo thì tội nghiệp ấy bị tiêu mất. Đích thật là tiêu trừ nghiệp chướng cho đứa bé, tiêu trừ nghiệp chướng vào lúc này thì dễ hơn.

Khi đứa bé trưởng thành, mỗi ngày từ sáng đến tối nó suy nghĩ lung tung, tới lúc đó bạn muốn tiêu trừ nghiệp chướng sẽ chẳng được. Lúc bây giờ còn nhỏ nó hoàn toàn nghe lời nên tiêu trừ nghiệp chướng đều phải làm ngay bây giờ. Do đó chúng ta mới thấu hiểu việc cổ thánh tiên hiền nói về thai giáo quan trọng dường nào, đây là thai giáo nói trong nhà Phật. Sau đó nói “an lạc dị dưỡng, thọ mạng tăng trưởng”, đứa bé này nghiệp chướng tiêu trừ, tai nạn cũng tiêu trừ, rất dễ nuôi, thọ mạng tăng trưởng. Nếu đứa bé này thừa phước mà sanh, đời quá khứ nó có tu phước, tức là chúng ta có nói nó đến để báo ân, đời quá khứ chịu ân đức với cha mẹ, tự mình cũng tu phước. “Chuyển tăng an lạc, cập dữ thọ mạng”, bạn có thể dạy nó, giúp nó, thì phước báo của nó càng lớn, thọ mạng càng dài. Chú giải chú rất hay, chúng ta có thể tham khảo, không cần nói thêm.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 24, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

31. ĐẠO LÝ CỦA VIỆC SIÊU ĐỘ Ở TRONG KINH ĐỊA TẠNG

Thuở trước tôi thấy một số pháp sư đi Mỹ hoằng pháp, khi tiễn đưa họ, tôi khuyên họ đến Mỹ đừng xây chùa miếu, tôi khuyên họ xây Từ đường, đề xướng Hiếu đạo. Tại sao? Nếu không có Hiếu đạo thì Phật pháp nhất định sẽ không bám rễ, sẽ chẳng xây dựng được đạo tràng Phật pháp, vì chẳng có cơ sở, Phật pháp là Sư đạo. Xây Từ đường tốt hơn, xây Từ đường hoằng dương Phật pháp, hiệu quả lớn hơn xây chùa nhiều. Vì bạn xây chùa xong, người ta vừa nhìn thì thấy là Phật giáo, người chẳng tin Phật sẽ chẳng bước vào, cái duyên ấy bèn tuyệt mất. Tôi xây Từ đường mỗi năm cúng tế tổ tiên, người Trung Quốc chẳng kể là tin theo tôn giáo nào, ai cũng chẳng quên tổ tiên, họ phải tới tham gia lễ cúng tổ tiên. Trong lúc cúng tế có thể giảng giải Phật pháp, có thể giảng giải giáo học truyền thống của Trung Quốc, được vậy thì dần dần có thể cảm hóa hết thảy đại chúng, do đó dùng Từ đường làm đạo tràng tốt hơn chùa miếu nhiều lắm.

Nhưng những pháp sư này chẳng nhận lời đề nghị của tôi. Người Nhật, người Trung Quốc xây đạo tràng ở Mỹ rất nhiều, trên thật tế đều là độ cho kiều dân Trung Quốc, rất ít người Mỹ ở địa phương ấy bước vô, nguyên nhân là ở chỗ này, chúng ta đã lộn ngược đầu đuôi rồi. Cho nên tuy đã xây dựng hơn một trăm năm, dùng thí dụ như ở Mỹ, Phật pháp được truyền đến Mỹ đã trên một trăm năm, ngày nay chẳng có biện pháp bám rễ, chẳng có biện pháp hoằng dương, rất nhiều người không biết nguyên nhân ở chỗ nào. Khi giảng kinh khắp nơi ở Mỹ, tôi thường nhắc nhở mọi người, chúng ta chẳng có phước báo, sức lực rất yếu kém, tôi đề xướng hiện đại hóa và bản địa hóa. Bạn xây đạo tràng ở Mỹ, hình thức của đạo tràng nhất định phải dùng kiến trúc của Mỹ, nhất định không thể xây theo lối kiến trúc cung điện của Trung Quốc ở Mỹ, người Mỹ vừa nhìn thấy liền nghĩ đây là từ ngoài đến, văn hóa nước ngoài, lập tức sanh khởi tâm bài xích, sẽ không chịu bước vào.

Do đó tôi khuyên mọi người xây đạo tràng ở Mỹ phải xây như thế nào? Xây giống như tòa Bạch Cung, xây giống tòa nhà Quốc Hội của Mỹ. Hình tượng Phật, Bồ tát ở trong ấy nhất định phải tạo giống gương mặt của người Mỹ, người Mỹ vừa nhìn liền nghĩ: “À, đây là người nhà mình”, như vậy mới độ được họ. Chúng ta phải biết, hai ngàn năm trước Phật pháp truyền đến Trung Quốc, những cao tăng Ấn Độ thông minh, họ tạo tượng Phật có gương mặt của người Trung Quốc, xây đạo tràng có hình thức của người Trung Quốc. Người Trung Quốc tôn kính nhà vua nhất, vua cư trú trong cung điện, họ phỏng theo phương thức ấy mà xây đạo tràng, người dân nhìn thấy rất ưa thích. Ai có đủ phước trong đời này có thể đi vào hoàng cung tham quan một phen bao giờ? Một người dân thường chẳng có cơ duyên này, chẳng có phước ấy thì đi vào chùa cũng như vào hoàng cung vậy, do đó họ nhất định sẽ vào chùa. Phải hiểu đạo lý này, đây là cơ sở vật chất.

Nội dung ở trong đạo tràng nhất định phải dạy “hiếu”, phải dạy “kính”, phải bắt đầu từ Hiếu kính, người đời xưa biết được. Phật giáo truyền đến Trung Quốc, tại sao lại được triều đình nhiệt liệt hoan nghênh? Lý tưởng và quan niệm cơ bản của giáo học Phật giáo cùng với giáo huấn của cổ thánh tiên hiền Trung Quốc chẳng hẹn mà giống nhau, giáo học của nhà Nho cũng xây dựng trên cơ sở của Hiếu đạo, Phật pháp cũng vậy. Vả nữa, Phật pháp giảng tường tận hơn nhà Nho, giảng rõ ràng, rành rẽ hơn, thế nên truyền đến Trung Quốc bèn được triều đình tiếp nhận nồng nhiệt, đạo lý là như vậy. Phật pháp đối với xã hội, đối với quốc gia, với nhân dân, đích thật có lợi ích, tuyệt chẳng phải là mê tín. Trong lịch sử Trung Quốc những người tu học Phật pháp là người nào? Đều là giai cấp sĩ đại phu, thời xưa gọi là giai cấp sĩ đại phu, ngày nay gọi là phần tử trí thức, chẳng phải người thường. Người thật sự có học vấn, có đạo đức lại tu học Phật pháp, tiếp nhận Phật pháp, tin theo Phật pháp, y giáo phụng hành, như vậy mới thật sự đạt được hiệu quả thay đổi phong tục, khơi động trào lưu trong nhân gian, phong khí ấy là phong khí lành mạnh.

Hiện nay chùa chiền đã biến chất, chẳng còn dạy học, lúc trước chùa chiền là trường học, là nơi dạy học. Hiện nay thay đổi rồi, biến thành chỗ siêu độ người chết, vậy là hoàn toàn biến chất, biến đổi quá lớn. Chuyện siêu độ này vốn chẳng có trong Phật giáo, tại sao lại biến đổi thành hiện tượng này? Lúc tôi mới bắt đầu học Phật, tôi thân cận pháp sư đạo An, lúc đó chúng tôi cùng nhau lập Đại Chuyên Phật Học Giảng Tọa, tôi hỏi lão pháp sư: “Phật sự siêu độ bắt đầu từ nguyên nhân gì? Tại sao lại biến thành như vậy?”. Ngài nói với tôi một hồi, tôi nghĩ cũng rất có lý. Ngài nói chuyện này có lẽ bắt đầu từ thời nhà Đường, năm Khai Nguyên, thời đại của Đường Minh Hoàng, bởi vì những năm cuối nhà vua sủng ái Dương Quý Phi, dẫn đến những dị nghị trong triều, sau đó An Lộc Sơn tạo phản, gần bị mất nước. May nhờ Quách Tử Nghi dẹp loạn này, số dân quân bị tử thương rất nhiều.

Sau khi dẹp xong cuộc loạn này, triều đình bèn xây một chùa ở mỗi chiến trường, các chùa này đều gọi là “Khai Nguyên Tự”, là vì vậy mà chùa Khai Nguyên được xây dựng. Xây những đạo tràng này là nhằm truy điệu những người dân, người lính bị tử nạn, mời pháp sư tụng kinh để siêu độ, đó gọi là pháp hội truy điệu, là bắt đầu như vậy. Triều đình, quốc gia đề xướng truy điệu vong hồn tử nạn, trong dân gian bèn bắt chước làm theo, nên khi người già mất đi cũng mời pháp sư đến để siêu độ, lúc đó việc siêu độ cũng là một việc phụ. Trong đạo tràng cũng vẫn giảng kinh, thuyết pháp, hướng dẫn đại chúng tu hành, siêu độ chỉ là chuyện phụ thêm. Hiện nay siêu độ lại trở thành việc chính, còn việc chính yếu thật sự lại biến mất, chẳng còn nữa, đổi việc phụ thành việc chính, là điên đảo hết rồi, như vậy nên biến thành mê tín. Chúng ta phải biết những sự thật này đã diễn biến, hình thành như thế nào.

Nói thật ra những lý luận phương pháp, nguyên lý, nguyên tắc của việc siêu độ đều nằm trong kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện. Người thực hành việc siêu độ làm thế nào thật sự làm cho người mất có thể rời khỏi ác đạo, có thể sanh lên trời hưởng phước trời. Trong kinh đã giảng rất rõ ràng, bản thân người siêu độ phải chứng quả thì mới được; nếu bản thân không thể nâng cao cảnh giới của mình, chẳng thể chứng quả thì người được siêu độ (người mất) được lợi ích rất có hạn. Giống như thí dụ trong kinh, như cô Quang Mục là một người con có hiếu, biết mẹ mình lúc còn sống tạo rất nhiều tội nghiệp. Cô hiểu biết Phật pháp, nếu làm những hạnh nghiệp như mẹ cô đã làm cả đời, tương lai nhất định phải đọa địa ngục, đọa địa ngục thì sẽ rất khổ, địa ngục dễ vào nhưng rất khó thoát ra. Cô muốn cứu mẹ nên chỉ còn cách cầu Phật. Phật dạy cô phương pháp gì? Dùng phương pháp niệm Phật, đức Phật chẳng dạy cô cách gì khác. Cô gái Bà La Môn cũng dùng phương pháp niệm Phật, cô Quang Mục cũng dùng phương pháp niệm Phật, họ chẳng dùng cách khác, chỉ niệm Phật.

Cô Bà La Môn niệm một ngày một đêm, ngày nay chúng ta gọi là tinh tấn niệm Phật, cô là phàm phu nhưng vì muốn cứu mẹ nên trong vòng một ngày một đêm cô niệm rất chân thành, rất khẩn thiết, rất đúng như pháp, niệm một ngày một đêm bèn được nhất tâm bất loạn; kinh Di Đà nói: “Nếu một ngày, nếu hai ngày, …, đến bảy ngày”. Được nhất tâm bất loạn, cô bèn chứng quả, nên trong định cô có thể đến địa ngục, quỷ vương trong địa ngục thấy cô tới, chắp tay xưng cô là Bồ tát. Từ phàm phu cô tu hành trong một ngày một đêm liền siêu phàm nhập thánh, đạo lý là ở chỗ này. Quỷ vương hỏi cô: “Bồ tát! Cô đến đây làm gì?”. Cô hỏi quỷ vương: “Đây là chỗ nào?”. Quỷ vương trả lời: “Đây là địa ngục”, chỉ có hai hạng người có thể đến địa ngục, một là người tạo nghiệp thọ báo; hai là Bồ tát, nếu chẳng phải hai hạng người này thì nhìn chẳng thấy địa ngục. Cô hỏi tiếp, hỏi thăm tung tích của mẹ cô, quỷ vương đáp: “Ba ngày trước mẹ cô đã sanh lên cõi trời Đao Lợi, không những mẹ cô được sanh, những người cùng chịu tội với mẹ cô đều được sanh lên trời Đao Lợi”. Nghe nói bà có một người con hiếu thuận tu phước cho bà, cúng dường Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, có phước báo này nên bà được sanh lên trời.

Bà làm sao có phước báo này? Nếu mẹ cô chẳng tạo tội đọa địa ngục, có thể cả đời cô Bà La Môn cũng chẳng đạt đến cảnh giới này, lúc bình thường niệm Phật rất giải đãi, lơ là thì làm sao niệm đến nhất tâm được? Đây là vì cứu mẹ nên phải liều mạng! Một ngày một đêm cảnh giới bèn chuyển biến, bèn nâng cao. Cô có thể chuyển phàm thành thánh là nhờ sức mạnh gì? Nhờ duyên của mẹ cô giúp cô, mẹ cô được sanh lên trời là do đạo lý này. Nếu cô chỉ siêu độ trên hình thức thì không ăn nhằm gì cả, tự mình chẳng được phước, người được siêu độ cũng chẳng được phước. Pháp giới của ác đạo cùng pháp giới của con người chẳng khác nhau. Nếu nói gia đình của bạn, con cái bạn được giáo dục rất tốt, được mọi người trong xã hội tôn trọng; bạn làm tổng thống, làm bộ trưởng, cha mẹ của bạn đi đến chỗ nào cũng được người ta tôn kính, đạo lý cũng giống như vậy. Nếu bản thân bạn chẳng có thành tựu, cha mẹ bạn làm sao được quỷ thần cung kính? Cho nên trong kinh nói về siêu độ, bảy phần công đức tự mình được sáu phần, người được siêu độ chỉ được một phần. Tự mình niệm Phật một ngày một đêm, niệm đến nhất tâm bất loạn, đó là công đức chính cô đạt được, mẹ cô được hưởng lây, hưởng phước của cô nên bà được sanh lên trời Đao Lợi, đây là một phần bảy công đức. Nếu tự mình không thành tựu, thì đối phương sẽ chẳng được phước lớn như vậy.

Thông thường thì bố thí chỉ là mời họ đến dùng cơm, như “Phóng Diệm Khẩu” là mời khách, mời dùng cơm, làm cho họ được no ấm mà thôi, chẳng giúp họ rời khỏi ác đạo. Muốn thật sự rời khỏi ác đạo, trong pháp sự siêu độ, những pháp sư ấy tùy văn nhập quán, sau buổi pháp sự ấy họ thật sự thành Bồ tát, cảnh giới của họ nâng cao thì hiệu quả của việc siêu độ mới lớn, hết thảy những người được siêu độ nhất định sẽ được sanh lên trời. Nếu bạn hỏi tại sao được sanh lên trời? Vì trong Phật sự siêu độ, các pháp sư ấy hết lòng nỗ lực, dùng tâm thanh tịnh, bình đẳng để tu học, chính họ siêu phàm nhập thánh, từ địa vị phàm phu nâng cao đến Bồ tát, là đạo lý như vậy. Nếu làm xong Phật sự mà bạn vẫn còn là phàm phu thì bạn chẳng có sức mạnh như vậy.

Thế nên chúng ta phải hiểu đạo lý, làm Phật sự siêu độ phải hết lòng, niệm những kinh văn ấy, niệm những kệ tụng ấy nhất định phải khế nhập cảnh giới, sau khi nhập cảnh giới phải không thoái chuyển, thì công đức đó vô lượng vô biên, phước họ được sẽ không biết là bao lớn! Không thể nói làm qua loa, sơ sài cho hết trách nhiệm, không thể như vậy. Việc siêu độ làm sao có thể trả giá được? Nếu làm việc siêu độ như làm ăn buôn bán thì công đức gì cũng không có, hoàn toàn rơi vào hình thức, vậy thì sai rồi! Không những chỉ siêu độ vong linh, mà thật sự cũng siêu độ cho mình, tự mình siêu độ rồi thì vong linh sẽ được siêu độ theo, nếu tự mình chẳng có biện pháp siêu độ thì chắc chắn sẽ không siêu độ vong linh nổi. Phật pháp thường nói tự mình chưa độ mà muốn độ người khác, chẳng bao giờ có chuyện ấy, chẳng có đạo lý như vậy! Trong kinh này chúng ta thấy cô Bà La Môn thật sự chính mình đã được độ, chính mình được độ xong mới có thể độ người ta, những vong linh này nương nhờ phước lực của cô để siêu sanh. Siêu sanh cao nhất cũng chỉ đến trời Đao Lợi, lên những cõi cao hơn nữa phải tự mình có công phu tu hành, người ta muốn giúp cũng chẳng giúp nổi.

Làm Phật sự siêu độ, ở Trung Quốc quy mô lớn nhất là vào đời Lương Võ Đế, Lương Võ Đế siêu độ phi tử của ông, người chủ trì pháp hội siêu độ này là vị cao tăng đương thời: Bảo Chí Công. Sau này chúng ta biết Bảo Chí Công là Quán Thế Âm Bồ tát ứng thân tái lai. Quán Thế Âm Bồ tát đích thân chủ trì pháp hội siêu độ, sau đó Lương Hoàng Sám được truyền cho đến nay. Quán Thế Âm Bồ tát chủ trì pháp hội này, siêu độ phi tử của Lương Võ Đế cũng chỉ lên đến trời Đao Lợi, chư Phật Như Lai có chủ trì thì cũng được vậy mà thôi. Nương nhờ vào phước báo của người khác chỉ có thể đạt đến cảnh giới này, muốn lên trên nữa phải dựa vào sự tu hành của chính mình, chính mình chẳng có công phu tu hành thì không được! Nương phước báo của người khác thì cao nhất chỉ có thể đến trời Đao Lợi. Chúng ta phải hiểu rõ ràng, rành rẽ đạo lý và chân tướng sự thật này. Cho nên khi chính mình tu hành thật sự chuyển được cảnh giới, thật sự có công phu, thì Phật sự siêu độ có thể chẳng cần hình thức.

Chúng ta đọc Ảnh Trần Hồi Ức Lục thấy trong lời của lão pháp sư Đàm Hư kể lại, lúc đó ngài cùng ba, bốn người bạn cùng nhau nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm, trong đó có một đoạn “Đóng cửa tám năm đọc Lăng Nghiêm”. Đây là những cư sĩ tại gia, mỗi ngày còn phải làm việc, bôn ba công việc, chẳng thể chuyên tâm. Nhưng dùng tám năm để học một bộ kinh, ít nhiều thì họ cũng có công phu định lực, nếu tám năm học mười bộ, tám bộ thì sẽ chẳng có hiệu quả. Tám năm dồn sức vào một bộ kinh, tâm định trên bộ kinh này, oán thân trái chủ tìm họ nhờ siêu độ. Ông thoạt nhìn thấy linh quỷ đến bèn sợ hãi, họ đều là oan gia đời trước, sợ họ đến kiếm chuyện phá rối. Những oan gia chủ nợ này đến quỳ trước mặt ông, cầu xin ông siêu độ cho họ, tâm của ông mới hết sợ, biết họ chẳng phải tới kiếm chuyện. Làm thế nào siêu độ? – “Chỉ cần ông nhận lời là được!”. “Được! tôi đồng ý!”. Ông thấy oan hồn ấy đạp lên đầu gối, đạp lên vai ông rồi bay lên trời, nghi thức gì cũng chẳng cần làm. Khi chính bạn đạt đến cảnh giới này, có công phu này thì họ sẽ nhờ phước báo của bạn, chỉ cần bạn đồng ý là được. Cho nên bạn phải biết việc siêu độ vong linh hoàn toàn dựa vào đức hạnh và công phu tu hành của chính mình.

Ngày nay trong pháp hội siêu độ ở Cư Sĩ Lâm, chúng ta kết hợp giảng đường với niệm Phật đường của chúng ta, sức mạnh này rất lớn! Phía dưới noi theo hình thức làm Phật sự siêu độ, nội dung thật sự trong đó nương vào Niệm Phật đường, do đó sự siêu độ này rất thù thắng. Chắc chắn những sự siêu độ hồi trước chẳng sánh bằng, đích thật có chư Phật, Bồ tát trong đạo tràng, có thiện thần hộ pháp trong đạo tràng. Những pháp sư, đồng tu làm việc siêu độ này dùng tâm chân thành, thanh tịnh nên cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn, thật sự tu vô lượng vô biên phước báo. Chúng ta hiểu đạo lý này, hiểu cảm ứng của “tâm điện”, nói thật ra tâm điện tức là những làn sóng tư tưởng, khởi tâm động niệm, tất cả đều là thiện, thuần thiện. Sức mạnh của những làn sóng này mạnh, có thể nhiễu loạn những làn sóng ác niệm của hết thảy chúng sanh, kể cả những quỷ thần trên thế gian, chúng ta quân bình những làn sóng ác, làm vậy tạo nên hiệu quả rất lớn. Trong ấy đích thật có đạo lý.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 24, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

32. QUỶ THẦN YÊU CẦU NGHE GIẢNG KINH ĐỊA TẠNG

Lão Lâm trưởng Cư Sĩ Lâm Singapore (Trần Quang Biệt) vãng sanh năm ngoái, các đồng học ở lớp bồi dưỡng của chúng ta đều tham gia trợ niệm tiễn ông vãng sanh, đủ loại thoại tướng, mọi người đều đã thấy tận mắt, đã nghe tận tai. Oán thân trái chủ của ông rất nhiều, Sau khi vãng sanh, oán thân trái chủ cùng với các vị pháp sư đến Niệm Phật đường cư sĩ Lâm dựa vào thân của Đỗ cư sĩ nói chuyện. Họ nói họ nhìn thấy lão Lâm trưởng vãng sanh, họ vô cùng hoan hỷ, vô cùng tán thán. Họ nói họ là oán thân trái chủ của ông, thần hộ pháp của Cư sĩ Lâm cho phép họ đi vào, họ không có ác ý, họ đến là để cầu quy y, đến là để cầu nghe pháp, họ nói chuyện rất là lâu. Vào lúc đó tôi đang giảng kinh ở Hongkong, các vị đồng tu liền gọi điện báo cho tôi, nói rằng oán thân trái chủ lão Lâm Trưởng nhập xác để yêu cầu. Tôi nói: Tốt! Quý vị hãy làm lễ quy y cho họ đi. Sau khi làm lễ quy y xong, mời họ đến để nghe kinh. Họ lại nói ánh sáng của pháp sư giảng pháp quá mạnh, họ chịu không nổi. Chúng tôi nghe rồi liền thương lượng với họ, mở rộng phòng ăn ở lầu một và phòng ăn ở lầu hai, sử dụng máy vô tuyến truyền hình để chiếu phát băng giảng kinh, họ đồng ý!

Họ muốn nghe kinh gì? Họ chỉ định kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, quỷ thần đặc biệt thích bộ kinh này. Chúng tôi liền mở phát kinh suốt 24 giờ, hiện giờ tôi không biết là còn phát nữa hay không. Nếu như lợi ích cho quỷ thần thì chính là bộ kinh Địa Tạng ở tại nơi đó luôn luôn phát mãi không ngừng, họ được lợi ích vô lượng vô biên, mở kinh 24 giờ không gián đoạn, quỷ thần hoan hỷ. Nếu như chư vị hiểu được đạo lý này, đĩa kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện của chúng tôi phát hành rất rộng rãi, bạn ở tại nhà có thể chiếu phát. Đừng có sợ ma vào nhà, những hồn ma đó là hồn ma tốt, không phải là ác ma, họ đến để hộ pháp, ác ma không biết nghe bộ kinh này. Nghe bộ kinh này đều là ma biết tu hành, tương lai họ có thể vãng sanh, họ cảm ơn công đức của bạn. Buổi tối đi ngủ, bạn hãy mở ở trong phòng khách ở nhà của bạn, mở âm thanh nhỏ một chút để không ảnh hưởng đến giấc ngủ của bạn, họ đang tu tập, chúng ta thì giải đãi. Phải phát tâm sám hối, thường xuyên phải nghĩ đến họ, quan tâm đến họ, tôn trọng họ, giúp đỡ họ, mỗi một người chúng ta đều phải có trách nhiệm. Nếu như đĩa kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện của chúng tôi không có đủ, chúng tôi sẽ làm tiếp, chúng tôi sẽ phụ trách, chúng tôi sẽ làm tiếp mấy ngàn bộ, phát hành số lượng lớn.

Tôi đọc đoạn kinh này cảm động rất sâu. Lão cư sĩ Trần Quang Biệt làm thế nào để được vãng sanh? – Là nghe kinh 8 giờ đồng hồ, niệm Phật 8 giờ đồng hồ. Nguyên nhân là do ông bị bệnh, bệnh là tăng thượng duyên, ông mà không có bệnh thì ông sẽ không nghe kinh, ông sẽ không niệm Phật. Nằm ở trên giường chẳng có cách nào, khi ngủ xong thì xem băng ghi hình, xem mệt rồi thì niệm A Di Đà Phật, niệm mệt rồi thì ngủ, hơn ba năm thì ông đã thành công. Ông thật sự đã nghe rất kỹ, vạn duyên buông xuống, niệm Phật cầu vãng sanh. Đây là một tấm gương tốt cho chúng ta. Tuyệt đối không thể lơ là, sơ suất. Các vị oán thân trái chủ của ông ở kề bên, hiện thân thuyết pháp, thật sự đã củng cố thêm niềm tin cho chúng ta. Chúng tôi ở nơi này đã nhìn thấy tận mắt, nghe được tận tai, nếu như vẫn chưa đề cao cảnh giác cho bản thân thì nghiệp chướng này có phần nặng nề lắm rồi. Giống như trường hợp vãng sanh của lão cư sĩ Trần Quang Biệt, thời cận đại, ở nhiều địa phương của các quốc gia, chúng tôi thường xuyên nghe được, có một số đồng tu tận mắt nhìn thấy được. Cần phải luôn cảnh giác, đây mới là chuyện trọng đại nhất trong cuộc đời của chúng ta, những việc khác là chuyện nhỏ.

Trích lục từ: “Kinh Vô Lượng Thọ Giảng Lần Thứ 10 Tập 263, HT. Tịnh Không chủ giảng, Vọng Tây cư sĩ cẩn dịch”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

33. NỀN TẢNG CƠ SỞ CỦA PHẬT PHÁP ĐẠI THỪA

Mời mọi người xem kinh văn:

Duyên thử Bồ tát cửu viễn kiếp lai, phát đại trọng nguyện lợi ích chúng sanh, thị cố nhữ đẳng y nguyện lưu bố.

Do vì Bồ tát này từ thuở kiếp lâu xa đến nay từng phát đại trọng nguyện làm lợi ích cho chúng sanh, cho nên các ông phải y theo tâm nguyện mà lưu bố[79].

Ðây là lời đức Thế Tôn phó chúc. “Duyên thử Bồ tát”, “duyên” là duyên phận này, “thử Bồ tát” là Ðịa Tạng Bồ tát. “Cửu viễn kiếp lai, phát đại trọng nguyện”, chữ “trọng” có hai cách đọc, đọc là trọng cũng được, đọc là “trùng” cũng được. “Trọng” nghĩa là nguyện của ngài rất nặng, “trùng” nghĩa là lập lại, mỗi đời đều phát, do đó nói có hai âm, hai ý nghĩa đều đầy đủ; bạn đọc là “trọng” cũng không sai, cũng đúng, nó có hai ý nghĩa ở trong ấy, nguyện vọng của ngài hoàn toàn là lợi ích chúng sanh. Ở đây chúng ta nhất định phải hiểu rõ, đây là bổn nguyện của Bồ tát; nói cách khác, cũng là căn bản lớn lao của sự học Phật của chúng ta. Do đó Phật pháp Ðại thừa bắt đầu tu từ đâu? Nhất định phải bắt đầu tu từ Ðịa Tạng Bồ tát, nếu bạn chẳng có tâm nguyện của Ðịa Tạng, bạn dứt khoát không phải người Ðại thừa.

Trong pháp Ðại thừa bất luận là tu học pháp môn nào cũng đều dùng chỗ này làm cơ sở, tức là nhất định phải phổ độ chúng sanh, thật sự là chúng sanh chưa được độ thì tự mình không thể thành Phật. Bây giờ không thể thành Phật là không ở ngôi vị Phật, Ðịa Tạng Bồ tát thật sự đã thành Phật từ kiếp lâu xa, học trò của ngài đều đã thành Phật, làm sao ngài chưa thành Phật được? Không trụ ở ngôi vị Phật nghĩa là nói không dùng thân phận của thầy giáo xuất hiện ở thế gian, vĩnh viễn dùng thân phận bạn đồng học để giúp đỡ hết thảy chúng sanh, là ý nghĩa như vậy. Không làm thầy, làm bạn đồng học của hết thảy chúng sanh, là học trưởng của mọi người, dùng thân phận học trưởng xuất hiện, không dùng thân phận thầy, ý nghĩa chân chánh là như vậy. Ðủ tư cách làm thầy, không dùng thân phận thầy, chúng ta nhất định phải học theo. Tức là chủ động giúp đỡ hết thảy chúng sanh, giúp mọi người phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 25, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

34. CẦN PHẢI DUY TRÌ VÀ ỦNG HỘ CƠ SỞ GIÁO HỌC NÀY

Xin xem kinh văn:

Ngô tức Niết bàn, sử nhữ tảo tất thị nguyện, ngô diệc vô ưu hiện tại vị lai nhất thiết chúng sanh.

Ta sắp sửa vào Niết bàn rồi! Ông hãy sớm hoàn tất lời nguyện đó, thì Ta cũng không còn phải lo nghĩ gì đến tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai nữa[80].

Đọc câu kinh này chúng ta cảm xúc thật sâu sắc, chúng ta học Phật bắt đầu từ đâu? Bạn xem đức Phật Thích Ca Mâu Ni có tâm gì? Trong tâm Phật chỉ có hết thảy chúng sanh hiện tại và vị lai, chẳng có “Ta”, đó chính là tâm Phật. Mỗi niệm đức Phật đều phục vụ cho chúng sanh, đều để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang chịu khổ nạn. Kinh này là do đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng trước khi ngài nhập diệt, có thể nói là lời dạy cuối cùng, sau khi giảng xong kinh này là ngài giảng bộ kinh Niết Bàn, cho nên đây là kinh giảng ngay trước kinh Niết Bàn, có thể nói đây là lời dạy cuối cùng.

Ở đây nói “ngô tức Niết bàn”, là trong thời gian này duyên giáo hóa chúng sanh của đức Phật đã hết, công đức viên mãn, ngài thị hiện rời khỏi thế gian này, là tướng nhập Niết bàn trong tám tướng thành đạo[81], nhập Niết bàn có ý nghĩa như vậy. Khi duyên hết thì đức Phật không trụ trong cõi đời, trụ ở đời chẳng còn ý nghĩa, những người có duyên, đáng được độ đều đã được ngài độ, những người chẳng được độ đều đã được ngài gieo hạt giống Phật pháp, nhưng hạt giống ấy còn chưa chín muồi đương nhiên ngài phải rời khỏi thế gian này.

“Sử nhữ tảo tất thị nguyện”, bạn phát tâm tiếp tục làm công việc này, rất tốt! Cho nên lúc đức Phật không trụ ở đời, trước lúc Di Lặc Bồ tát thị hiện thành Phật, khoảng giữa này là do Địa Tạng Bồ tát giáo hóa thay thế đức Phật, trong hết thảy Bồ tát, Địa Tạng Bồ tát thay thế đức Phật, trong thời gian này thân phận của ngài rất đặc biệt. Địa Tạng Bồ tát thay mặt đức Phật là có ý nghĩa gì? Trong kinh này có nói: “Hiếu dưỡng cha mẹ, tôn kính sư trưởng”, cương lãnh giáo học Hiếu thân tôn sư thay thế lời dạy của đức Phật trong suốt khoảng thời gian dài này, vì lời dạy của hết thảy chư Phật Như Lai đều dựa trên căn bản Hiếu thân tôn sư. Đức Phật chẳng còn tại thế, công việc chúng ta phải làm là duy trì ủng hộ cơ sở giáo học này, chúng ta không có năng lực nâng cao giáo học này lên nhưng cơ sở này nhất định phải giữ gìn, không thể đánh mất. Công việc này rất quan trọng, đây là tinh thần được nói rõ trong bộ kinh này.

Tin sâu nhân quả, đoạn ác tu thiện, hiếu thân tôn sư, đây là những gì kinh Địa Tạng dạy. Nếu dùng giáo nghĩa của Tịnh Tông, cơ sở tu học của Tịnh Tông là lời đức Phật dạy Tịnh nghiệp Tam phước trong Quán kinh, khi chưa tu pháp môn niệm Phật thì phải củng cố cơ sở này, Tịnh Tông được xây dựng trên cơ sở này. Điều thứ nhất trong đó là: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng sát hại, tu Thập thiện nghiệp”. Chư vị nghĩ coi bốn câu này có phải là kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện hay không? – Đúng vậy! Điều thứ hai: “Thọ trì Tam quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi”. Điều thứ ba: “Phát tâm Bồ đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại thừa, khuyến tấn hành giả”, bảy câu trong hai điều sau cuối này hoàn toàn tương ứng với năm phẩm cuối của kinh Địa Tạng, từ phẩm thứ chín cho đến hết kinh, tổng cộng là mười ba phẩm. Nói một cách khác bộ kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện này chính là lời giải thích rõ ràng cho Tịnh nghiệp Tam phước, không những là cơ sở của Tịnh Tông, mà trong Phật pháp bất luận Đại thừa, Tiểu thừa, bất luận Tông môn, Giáo hạ, Hiển giáo, Mật giáo[82] đều được xây dựng trên cơ sở này.

Lúc đức Phật không còn tại thế, chẳng có người hoằng pháp, giáo huấn, chúng ta có thể duy trì bảo hộ cơ sở này là được rồi, duy trì bảo hộ cơ sở này sẽ có thể cứu vớt hết thảy chúng sanh đang chịu tội khổ trong lục đạo. Cho nên thời Mạt pháp kiên quyết củng cố cơ sở này, khuyên người thật thà niệm Phật cầu sanh Tịnh độ thì sẽ thành công, đây thật sự là việc chẳng thể nghĩ bàn. Chúng ta muốn hoằng dương kinh luận khác, tự mình chưa khai ngộ, chưa kiến tánh sợ nói sai, rất khó được thọ dụng chân thật. Duy chỉ có kiên quyết giữ gìn cơ sở này, thật thà niệm Phật thì nhất định là chẳng sai, cho dù ngày nay chư Phật Như Lai thị hiện giáo hóa chúng sanh cũng nhất định phải làm như vậy. Cho nên chúng ta đọc đoạn kinh văn này sẽ biết trong tâm chư Phật Như Lai nghĩ việc gì, việc các ngài làm là việc gì, chúng ta phải học tập, làm theo.

Trong chú giải của pháp sư Thanh Liên có một đoạn, chúng ta đọc thử, trang một trăm ba mươi lăm, hàng thứ tư đếm ngược từ dưới lên, chúng ta coi từ đầu: “Thử pháp chi diệu” (Chỗ nhiệm mầu của pháp ấy), pháp ấy chính là lời dạy trong phẩm kinh Địa Tạng Bồ Tát, pháp đó là gì? Pháp môn Xưng danh hiệu Phật tức là pháp môn niệm Phật. “Cho dù ta nhập Niết bàn ngay, hoặc cho dù ông đã sớm hoàn tất nguyện cứu độ chúng sanh ấy rồi, ta vẫn không lo cho hết thảy chúng sanh trong đời hiện tại hay vị lai. Vì sao? Đã có pháp Xưng danh này thì ai cũng chẳng bị đọa vào cảnh khổ, đều cùng tu hành để sanh vào đường trời người cho đến rốt cuộc thành Phật không còn nghi ngờ chi nữa”. Nói được rất hay! “Hiểu được tâm Phật, rõ được ý Phật, khéo noi theo chí hướng để kế tục sự nghiệp ấy, không ai hơn được đức Từ Tôn Địa Tạng của chúng ta”. Địa Tạng Bồ tát thật sự hiểu được ý Phật, kế thừa nguyện vọng của Phật, chúng ta thường gọi là tiếp nối huệ mạng của Phật, Địa Tạng Bồ tát hiểu được ý tứ này. Đức Phật không còn tại thế, ngài Địa Tạng nhận lấy và tiếp tục giáo hóa chúng sanh, ngài dùng pháp môn gì? – Pháp môn Xưng danh, do đó Thế Tôn tán thán ngài, hối thúc ngài phải nói mau lên.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 32, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

35. BỐ THÍ PHẨM LÀ KHOA MỤC QUAN TRỌNG NHẤT CỦA TOÀN KINH

Trong cả bộ kinh Ðịa Tạng, phẩm này là phẩm quan trọng nhất[83], phần cuối cùng của kinh quy kết về Tam bảo, “Danh Hiệu phẩm” là Phật bảo, “Bố Thí phẩm” là Pháp bảo, sau đó “Lợi Ích Tồn Vong phẩm” là Tăng bảo[84]. Hiện nay Phật chẳng còn tại thế, trong Tam bảo thì Pháp bảo trọng yếu nhất, khuyên chúng ta tu bố thí. Chúng ta nhất định phải hiểu định nghĩa của hai chữ “Bố thí”cho rõ ràng. Bố thí chính là phục vụ, bố thí hết thảy chúng sanh tức là phục vụ cho nhân dân, cho xã hội, phục vụ cho chúng sanh trong thập pháp giới, đó là Phật đạo, Bồ tát đạo. Do đó chúng ta không thể nhìn sai việc bố thí, cứ cho rằng quyên tặng một ít của cải thì trong nhà Phật gọi là bố thí, vậy thì bạn hiểu việc bố thí một cách quá đơn giản, quá hạn hẹp rồi.

Trong Bồ tát hạnh, đức Phật dạy cho chúng ta sáu nguyên tắc, sáu điều, trong kinh điển gọi là Lục độ, Lục ba la mật, tức là sáu nguyên tắc cho hành vi của Bồ tát. Thứ nhất là Bố thí, thứ hai cũng là Bố thí, thứ ba vẫn là Bố thí. Ðức Phật giảng Bố thí chia thành ba loại: Thứ nhất là Bố thí tài, thứ nhì là Bố thí pháp, thứ ba là Bố thí vô úy. Điều thứ nhất trong Lục độ là Bố thí, Bố thí bao gồm cả ba thứ: Tài, pháp và vô úy. Thứ hai là Trì giới, trì giới là tuân giữ pháp luật. Thứ ba là Nhẫn nhục, tuân giữ pháp luật và nhẫn nhục đều thuộc về Bố thí vô úy; sau đó là Tinh tấn, Thiền định, Bát nhã đều thuộc về Bố thí pháp. Do đó nếu bạn quy nạp Bồ tát hạnh thì đó chính là hai chữ Bố thí; giải thích hai chữ Bố thí chính là phục vụ cho hết thảy đại chúng.

  Bất luận bạn có thân phận gì, bạn làm nghề gì, hết thảy bạn đều vì chúng sanh, vì xã hội, vì nhân dân thì đó là tu Bố thí ba la mật. Mỗi người chúng ta lợi sanh là làm một gương mẫu tốt cho chúng sanh, đó là tu Bố thí ba la mật. Tâm địa một người trên thế gian tốt, phẩm đức tốt, hành vi tốt, làm gương tốt cho xã hội, thì đã bố thí thân mình, cả thân và tâm đều tu bố thí. Ðời sống chúng ta, bất luận là giàu sang hay nghèo hèn, giàu sang thì làm một gương giàu sang tốt, nghèo hèn thì làm một gương nghèo hèn tốt. Người nghèo hèn giữ vững bổn phận, vui với cái nghèo, vậy chính là bố thí; người giàu sang làm gương tốt của một người giàu, dùng những gì mình dư dả giúp cho những người nghèo, đó là gương tốt cho người giàu, có phước thì cùng hưởng với hết thảy chúng sanh. Bạn làm trong chánh phủ, phục vụ cho nhân dân, bạn buôn bán cũng phục vụ cho nhân dân, bạn làm công cũng phục vụ cho nhân dân.

Chúng ta đã xuất gia, người xuất gia nghiên cứu Phật pháp, kinh giáo cho thấu triệt, giảng giải tường tận cho hết thảy chúng sanh, đó là phục vụ nhân dân, giúp mọi người phá mê khai ngộ, giúp mọi người nâng cao mức sống, người xuất gia cũng phục vụ nhân dân. Tất cả Phật pháp chẳng có gì khác, nói đến cuối cùng tổng kết lại chỉ là phục vụ hết thảy chúng sanh mà thôi. Chúng ta phát tâm phục vụ cho chúng sanh, và cũng khuyên hết thảy chúng sanh cũng phải phục vụ chúng sanh, thật sự có thể hy sinh chính mình, xả mình vì người thì người đó gọi là Bồ tát. Niệm niệm đều nghĩ đến chúng sanh, nghĩ đến toàn thể xã hội, nghĩ đến hết thảy nhân dân, chẳng nghĩ đến mình, chẳng nghĩ đến nhà mình; mình và nhà mình là một phần tử của đoàn thể, cả đoàn thể tốt thì lẽ nào mình không tốt được. Cho nên họ có phước báo lớn như vậy, phước báo có nguồn gốc từ đâu, chúng ta hiểu được.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 37, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

36. TRONG BỐ THÍ, BỐ THÍ PHÁP LÀ VIỆC QUAN TRỌNG NHẤT

 Xin xem kinh văn:

Thị quốc vương đẳng, hoặc tự doanh biện, hoặc khuyến tha nhân, nãi chí bách thiên nhân đẳng bố thí kết duyên.

Các Quốc vương đó, hoặc tự mình lo liệu sửa sang, hoặc khuyến hóa người khác, thậm chí cả trăm ngàn người cùng bố thí để kết pháp duyên[85].

Đây là nói về những đạo tràng chùa chiền cũ, hình tượng Phật, Bồ tát cũ, kinh điển cũ, sau khi bạn gặp liền phát tâm tu bổ. Tự mình bạn có khả năng làm thì rất tốt! Công đức của bạn viên mãn, nếu một mình không có khả năng thì khuyên bạn bè mọi người cùng nhau làm, cho đến khuyên một trăm người, ngàn người, tập hợp sức mạnh của quần chúng, bạn đề xướng nói rõ chân tướng sự thật, lợi ích này cho mọi người. Nhưng tu bổ đạo tràng cũ thì nhất định phải lễ thỉnh pháp sư tới chủ trì, nếu ở đó đã có pháp sư thì phải mời pháp sư hoằng pháp lợi sanh. Việc này lúc trước ở đây tôi thường khuyến khích thính chúng, thính chúng thường nói chẳng có pháp sư đến đây giảng kinh thuyết pháp, Phật pháp khó nghe.

Tôi nói với mọi người: Không phải là không có pháp sư đến giảng kinh thuyết pháp, mà là vì quý vị không thích nghe Phật pháp. Họ nghe xong cũng không hiểu. Mọi người đều không hiểu. Tôi ở đây giảng kinh thuyết pháp, người nghe nhiều như vậy, tại sao lại nói người nghe không thích nghe Phật pháp? Tôi giải thích: Quý vị nghe tôi giảng, tôi đã giảng hết bao nhiêu năm rồi? Giảng Phật pháp, trên giảng đài trui luyện bao lâu mới có thành tựu như ngày nay, quý vị đến hưởng thọ quả báo, quý vị đến hưởng thọ thành tựu. Lúc tôi mới tập giảng cũng vấp lên vấp xuống, quý vị chịu nghe không? Bạn không thích nghe, thì pháp sư giảng kinh sẽ nản chí, sẽ không tiếp tục giảng nữa?

  Bạn phải biết đào tạo pháp sư giống như trồng cây vậy, bạn phải chịu trồng cây thì tương lai mới có trái cây, mới có gặt hái được. Việc này đã được nói qua rất nhiều lần nên ở đây các vị đồng tu dần dần đều hiểu được. Người mới bắt đầu học thì làm sao có thể giảng cho hay được? Giảng không hay thì chúng ta cũng phải mỗi ngày đi nghe, giảng hay rồi thì không nghe cũng không sao. Người mới bắt đầu học giảng kinh cần có người đến ủng hộ, cần người khuyến khích, nếu mọi người đều không chịu nghe thì lòng tin của họ sẽ hoàn toàn mất hết. Cho nên tôi nói ưa thích nghe kinh nghĩa là sao? Là ưa thích nghe những người mới học giảng kinh, tuyệt đối không vắng mặt, làm cho những vị pháp sư mới học giảng kinh này có được lòng tin “đại khái chắc mình giảng cũng không tệ, người đến nghe không ít”, đồng thời các vị thính chúng vô hình trung tạo áp lực cho họ phải giảng mỗi ngày, họ mới có thể học được, họ mới gắng sức, nỗ lực tu học.

Tại sao vậy? Nếu họ không gắng sức thì họ không còn thể diện, nhất định phải chuẩn bị cho thật chu đáo, cho dù giảng không hay nhưng cũng giảng được hết buổi. Cho nên thính chúng là người giám học, là thầy giáo, đốc thúc họ, cứ như vậy trải qua ba năm, năm năm, trên giảng đài họ mới có thể giảng được, mới giảng được đúng như pháp. Thật sự giảng cho hay thì tối thiểu phải có mười năm kinh nghiệm, mười năm liên tục không gián đoạn. Cho dù không thể giảng mỗi ngày, mỗi tuần không thể ít hơn ba lần, phải duy trì như vậy suốt mười năm liên tục thì bạn mới có kinh nghiệm trên giảng đài, đúng như câu nói: “Vừa mở cuốn kinh thì tâm nghĩ gì, tay liền làm ngay được, trái phải gì cũng hợp với cội nguồn”[86]. Nếu không có nơi chốn để tập luyện, cho dù bạn học biết cách giảng rồi cũng không dùng được, ba tháng, nửa năm không giảng thì sẽ quên mất.

Do đó đặc điểm của lớp đào tạo giảng sư của chúng ta, học sinh mỗi tuần tối thiểu phải lên giảng đài một lần, đây là các người sơ học. Sau khi bạn giảng một lần, giảng đến lần thứ hai thì hy vọng mỗi tuần có thể giảng hai buổi, vì khi bạn giảng qua một lần, có cơ sở xong phải nỗ lực mỗi tuần giảng hai buổi; đến lần thứ ba thì hy vọng bạn mỗi tuần có thể giảng ba buổi; nói một cách khác, đến lúc giảng lần thứ tư thì mỗi tuần bạn có thể giảng được bốn buổi, được vậy thì bạn mới có thể học thành công, nếu không thì bạn không thể thành tựu. Do đó chúng ta xây đạo tràng mới cũng tốt, tu bổ đạo tràng cũ cũng tốt, nhất định phải thỉnh pháp sư giảng kinh, đương nhiên nếu vị pháp sư đó giảng không hay, giảng không hay mình cũng tới nghe, mỗi ngày mình đều tới nghe, mình còn mời một số người khác đến nghe; làm cho pháp sư không giảng thì không được, buộc pháp sư phải gắng sức, buộc pháp sư phải tu học, không những buộc pháp sư phải nghiên cứu giáo lý, vả lại còn buộc pháp sư phải làm gương mẫu cho chúng ta, ép cho pháp sư phải tu hành, vậy thì công đức của bạn sẽ rất lớn. Tương lai những vị pháp sư này thành tựu, ở khắp mọi nơi trên thế giới giảng kinh thuyết pháp phổ độ chúng sanh, đó đều là công đức của bạn. Họ làm sao thành tựu được? Là do bạn giúp họ thành tựu.

  Lúc tôi còn trẻ, năm hai mươi sáu tuổi tôi học Phật, trong thời gian này tôi theo học với lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam mười năm. Trên giảng đài tôi chưa từng gián đoạn giữa chừng, hầu như mỗi ngày đều có giảng, cơ hội này là do cư sĩ Hàn Anh[87] giúp tôi tạo thành, bà hiểu được, biết được đây là một việc tốt. Bà chẳng có tài lực, chẳng thể xây cho tôi một đạo tràng. Lúc đó vì phát tâm giảng kinh, đáng tiếc là chẳng có nơi cư trú, đến quải đơn ở chùa thì phải đi làm việc kinh sám Phật sự, đạo tràng nào cũng hoan nghênh bạn, còn nếu bạn đến đạo tràng để giảng kinh thì chẳng có đạo tràng nào hoan nghênh bạn, tôi chẳng có lối thoát. Bà giúp tôi, cho tôi cư trú ở nhà của bà, tôi ở nhà bà hết mười bảy năm, bà dành cho tôi một phòng trên lầu.

Đi đâu để giảng kinh? Bà còn phải lo việc mướn phòng, mượn chỗ. Bạn bè của bà rất nhiều, bà mượn văn phòng của bạn bè, buổi tối người làm việc đều về nhà nên mượn văn phòng của họ để giảng, do đó nơi chốn giảng kinh phải thường thay đổi, đại khái mỗi nơi giảng được hai ba tháng rồi phải đổi chỗ khác. Thính chúng có khoảng năm, sáu chục người, lúc nhiều nhất có tới hơn một trăm người, cứ như vậy tiếp tục chẳng gián đoạn trong vòng mấy chục năm. Trong đó có một thời gian chừng ba bốn năm, một ngày giảng ba lần, sáng chiều tối đều giảng. Lúc đó tôi còn nhớ, mỗi tuần giảng hơn ba mươi mấy giờ, tôi chịu khó, thích giảng, vui vẻ giảng, tôi có cơ hội luyện tập. Dần dần thính chúng nhiều hơn, tập hợp sức mạnh của đại chúng lại để mua một tầng lầu ở Đài Bắc, mua một căn chung cư, đó chính là thư viện Hoa Tạng Cảnh Mỹ ở Đài Bắc.

  Lúc mới mua, căn nhà này rất nhỏ, người ở Đài Loan tính bằng “bình”[88], căn này rộng năm mươi bình, ở đây thì tính bằng mét vuông, một ngàn năm trăm mét vuông, một đạo tràng nhỏ như vậy, đại khái lớn hơn phòng này khoảng một phần ba, chỉ có một chỗ nhỏ xíu như vậy. Sau đó từ từ mở rộng ra, mua căn kế bên, ngày nay đạo tràng này mở rộng gần ba trăm bình, gần một vạn thước, hiện nay có quy mô như vậy cũng chỉ là một đạo tràng trong chung cư, mấy chục năm nay cũng vẫn như vậy. Sự giảng kinh ở nước ngoài cũng do bà lo liệu, giúp cho tôi đi giảng khắp nơi trên thế giới, bà đi kết duyên, đi tìm thính chúng, tìm nơi làm giảng đường, cho nên ngày nay chúng ta có được thành tựu như vậy thì công đức của Hàn Quán Trưởng suốt ba mươi năm hộ trì không thể không nhắc đến.

Ngày nay trong giảng đường chúng ta, ở đối diện giảng đài tại sao phải treo tấm hình của bà? Là để cảm ân, thờ lúc bà mất cũng như bà còn sống, giống như bà đang ở tại hiện trường nghe kinh vậy, bà nhìn thấy cũng hoan hỷ. Chúng ta dùng tâm báo ân để thuyết pháp, dùng tâm báo ân để dạy học, nếu chúng ta không nỗ lực, không gắng sức, không tu trì cho tốt, không hoằng pháp lợi sanh cho hoàn hảo thì có lỗi đối với họ; cho nên chúng ta ở trong đạo tràng, trong Giảng đường, Niệm Phật đường, nếu là đạo tràng của tôi thì sẽ treo hình của thầy tôi, hình của các vị hộ pháp. Đạo tràng Cư Sĩ Lâm không phải là đạo tràng của tôi cho nên mỗi lần chúng tôi giảng kinh, tôi đều hồi hướng cho bà, quý vị niệm kệ hồi hướng của quý vị, tôi niệm kệ hồi hướng của tôi, kệ của tôi khác với quý vị, tôi hồi hướng cho thầy tôi, hồi hướng cho hộ pháp, đức Phật dạy chúng ta Tri ân báo ân.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 36, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

37. TRÁCH NHIỆM VÀ SỨ MẠNG LƯU THÔNG PHẬT PHÁP

Phẩm thứ mười một: Địa Thần Hộ Pháp. Từ đây về sau là phần Lưu thông của kinh. Phần Lưu thông gồm có ba phần: Địa Thần Hộ Pháp lưu thông, Kiến Văn Lợi Ích lưu thông, Chúc Lụy Nhân Thiên lưu thông. Chúng ta coi kinh Địa Tạng chẳng dài lắm, từ xưa tới nay kinh này có khi in thành một quyển, có khi in thành hai quyển, ở đây được in thành ba quyển, kinh văn không dài lắm, nếu xét về tầm vóc thì kinh này có tầm vóc của một đại kinh. Phần đông kinh điển, kinh Đại thừa cũng chẳng ngoại lệ, phần Lưu thông chỉ có vài hàng mà thôi, phần Tựa cũng chỉ có vài hàng, chỉ có đại kinh thì phần Tựa, Chánh tông, Lưu thông đều khá phong phú.

Phần Tựa của kinh này chiếm hết một phẩm Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi, phần Lưu thông dài ba phẩm, đây là tầm vóc của đại kinh. Giống như kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, kinh Vô Lượng Thọ cũng vậy. Chúng ta coi tầm vóc của kinh liền biết, đó là những kinh luận quan trọng nhất trong Đại thừa, có thể nói là Đại thừa trong Đại thừa, Nhất thừa trong Nhất thừa, đích thật là như vậy. Chữ lưu trong chữ Lưu thông có ý nghĩa của chữ “nước”, nước luôn di chuyển, lưu chuyển ba đời, thông đạt mười phương.

Đức Phật dạy chúng ta, Phật pháp phải đem lợi ích rộng rãi cho hết thảy chúng sanh. Bất cứ một người nào, tứ chúng xuất gia và tại gia, chỉ cần bạn quy y Phật môn, làm đệ tử Phật, thì bạn đều có trách nhiệm và sứ mạng lưu thông Phật pháp. Do đó đức Phật trong phần cuối của một bộ kinh đều khuyên chúng ta phải lưu thông bộ kinh ấy, chấp trì và tiếp nối pháp môn, đây là đại từ đại bi, giúp Như Lai rộng độ chúng hữu tình. Nếu chúng ta không thể làm hết trách nhiệm này, cho dù chính mình tu rất tốt thì cũng có lỗi đối với Như Lai. Pháp thế gian coi trọng việc “bất hiếu gồm có ba chuyện, không có người tiếp nối là tội lớn nhất”[89], dù bản thân bạn rất hiếu dưỡng cha mẹ, nhưng bạn không có người nối dõi, chẳng có người tiếp tục hương hỏa, dòng dõi truyền tới đời bạn thì đứt mất, đó gọi là đại bất hiếu.

Phật pháp cũng như vậy, tổ tổ tương truyền, truyền đến đời mình, mình tu cũng khá tốt, học cũng khá giỏi, nếu không thể truyền Phật pháp cho người khác, Phật pháp truyền đến mình thì bị đứt mất, dù có tu học tốt hơn nữa bạn cũng không thể thành Phật, cũng không thể vượt thoát luân hồi, tại sao vậy? Việc làm của bạn có lỗi đối với Phật, Bồ tát, có lỗi đối với Tổ sư đại đức, làm sao có thể nhẫn tâm truyền đến đời bạn bèn bị đứt mất? Nhất định phải truyền pháp, mỗi đời đều có người kế thừa, làm cho Phật pháp thường trụ thế gian, chẳng đến nổi bị đứt mất, đây là ý nghĩa sâu xa của sự Lưu thông, chúng ta phải hiểu như vậy.

Trong sự tu học Phật Pháp, chúng ta đã đọc trong kinh này, đã đọc phần Chánh tông, công đức gì lớn nhất? Phước báo gì lớn nhất? – Lưu thông, phần trước đã nói với bạn, tu sửa tháp tự cũ, tu bổ kinh sách cũ đều thuộc về việc lưu thông Phật pháp. Thân hành, thân là gương cho người khác thấy, thì đó là dùng thân để lưu thông Phật pháp, làm cho người khác thấy, đó là thị hiện. Khẩu tuyên nói là lưu thông, đừng sợ mệt, bạn hãy coi đức Phật Thích Ca cả đời thị hiện cho chúng ta coi, ngài cũng thị hiện già, bệnh, nhưng già và bệnh chẳng gián đoạn sự giảng kinh thuyết pháp, người khác khuyên ngài ngưng nghỉ nhưng ngài vẫn không ngưng nghỉ vì muốn đem lại lợi ích cho chúng sanh.

Những sự thị hiện này đều là dạy chúng ta, đừng nghĩ là già, bệnh thì có thể nghỉ ngơi, có thể về hưu. Đến lúc lâm chung đức Phật Thích Ca còn giảng kinh Đại Bát Niết Bàn, còn bộ kinh Địa Tạng thì được ngài giảng ba tháng trước khi lâm chung, đây là lời dạy sau cùng. Sau khi ngài từ cõi trời Đao Lợi trở về, giảng kinh Đại Bát Niết Bàn trong một ngày một đêm rồi viên tịch. Ngài dạy chúng ta đến chết cũng không nghỉ ngơi, đây là tinh thần gì? Đức Phật làm gương cho chúng ta coi, không phải chỉ nói khơi khơi để khuyên chúng ta mà thôi, không phải vậy, ngài làm gương thật sự, đây là điều chúng ta phải học, noi gương đức Phật Thích Ca, phải làm giống y hệt ngài, làm việc hoằng pháp lợi sanh lưu thông Phật pháp mãi cho đến hơi thở cuối cùng, đó mới thật sự là đệ tử của Phật, truyền nhân của chư Phật Như Lai.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 39, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

38. Ý NGHĨA VIỆC THỜ CÚNG HÌNH TƯỢNG ĐỊA TẠNG BỒ TÁT

Mời mọi người cùng xem tiếp kinh văn:

Thế Tôn! Ngã quán vị lai cập hiện tại chúng sanh, ư sở trú xứ ư Nam phương thanh khiết chi địa, dĩ thổ thạch trúc mộc, tác kỳ khám thất, thị trung năng tố họa nãi chí kim ngân đồng thiết. Tác Ðịa Tạng hình tượng, thiêu hương cúng dường, chiêm lễ tán thán.

       Bạch đức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh đời hiện tại và vị lai, nơi chỗ sạch sẽ ở phương Nam trong cuộc đất mình trú ngụ, mà dùng đất, đá, tre, gỗ dựng cất cái khám hoặc cái thất; ở trong đó có thể tô vẽ cho đến dùng vàng, bạc, đồng, sắt làm hình tượng Ðịa Tạng Bồ tát, đốt hương cúng dường, chiêm lễ, ngợi khen[90].

  Ðoạn này nói người có thể cúng dường tu phước, đặc biệt chữ “vị lai” là chỉ thời đại ngày nay của chúng ta. Câu “hiện tại chúng sanh” có hai cách giải thích, một là nói lúc Thế Tôn giảng kinh thuyết pháp ở cung trời Ðao Lợi, đại chúng tham gia lúc đó chính là “hiện tại chúng sanh”. Còn một ý nghĩa nữa là vị lai hiện tại, thời gian vị lai quá dài, quá dài, hãy dùng sự tích Ðịa Tạng Bồ tát giáo hóa chúng sanh, thời gian kể từ sau lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ cho đến trước lúc Di Lặc Bồ tát hạ sanh đều thuộc về đời vị lai. Vị lai, hiện tại chúng sanh, đó chính là các thời đại, các vùng, chỉ cần chúng ta gặp bộ Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh, chỉ cần nghe đến pháp môn này, thì chúng ta thuộc về những chúng sanh nói trong câu trên. Nói một cách khác, câu này chính là nói về chúng ta.

  Phải tu cách nào? Ở nơi mình cư trú. “Ở phía Nam của chỗ đất thanh khiết”, có phải lựa hướng Nam trong bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc hay không? Chúng ta phải hiểu, nếu nhà người đó hướng về hướng Bắc thì rất tốt, hướng đó đúng rồi. Nếu căn nhà của họ hướng về hướng Nam, vậy thì hướng Nam là hướng ngay cửa nhà họ, bạn nghĩ xem có cúng Ðịa Tạng Bồ tát ngay cửa nhà mình hay không? Chắc chắn là không! Nhất định phải như sự tiêu biểu pháp trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử năm mươi ba lần tham vấn đều hướng về phương Nam, Nam chẳng chỉ hướng Nam, Nam là chỉ hướng trí huệ, phàm những nơi có thiện tri thức cư trú đều gọi là hướng Nam; khi chúng ta hiểu ý nghĩa này thì sẽ dễ hiểu hơn, phàm nơi thờ cúng Ðịa Tạng Bồ tát đều gọi là hướng Nam, chư vị nhất định phải hiểu đạo lý này.

  Trong nhà mình có phòng riêng làm nơi thờ Phật thì rất tốt, còn nếu không có nơi làm phòng thờ Phật thì thờ ở phòng khách, nhưng phải thờ ở hướng thượng trong phòng này. Hướng nào được gọi là hướng thượng? Phòng này chỉ có một cửa hoặc có nhiều cửa, bất luận là từ cửa nào bước vô phòng, chỗ mà mình vừa bước vô liền nhìn thấy thì đó là hướng thượng. Giống như phòng học này của chúng ta, chỗ chúng ta ngồi là hướng thượng. Ở đây chỉ có hai cánh cửa, chỗ này là chỗ khi chúng ta vừa bước vô liền nhìn thấy. Còn cánh cửa kia, chỗ này cũng được gọi là hướng thượng, chỗ này khi vừa bước vào liền nhìn thấy. Còn chỗ ngồi của cư sĩ Hứa thì không được gọi là hướng thượng, chỗ ngồi của pháp sư Khoan Dung cũng không phải là hướng thượng, khi người ta bước vô thì không thấy chỗ đó. Hướng thượng là chỗ chúng ta phải chú ý đến, là chỗ cung kính nhất, thờ Ðịa Tạng Bồ tát ở chỗ này, chỗ này chính là hướng Nam. Không nhất định phải tìm vị trí của bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, chúng ta phải hiểu đạo lý này. Hướng Nam tượng trưng cho quang minh, trí huệ.

  Câu “Chỗ đất thanh khiết” rất quan trọng! Nơi cúng Phật nhất định phải thanh khiết, đại sư Ấn Quang đã từng nói. Có người thờ tượng Phật trong phòng ngủ của mình, hỏi đại sư Ấn Quang có đúng như pháp không? Ðại sư nói: “Nơi thờ hình tượng của Tam bảo cũng giống như đại hùng bảo điện”, ở nơi đó phải khởi tâm cung kính, do đó phần nhiều không nên thờ Phật trong phòng ngủ của mình. Trong trường hợp nào mới có thể thờ tượng Phật trong phòng ngủ? Trong lúc bệnh nặng, lúc cầu vãng sanh, trong lúc đó thì không kiêng kỵ gì hết, trong mọi lúc, mọi nơi, trong tâm niệm đều không được lìa Phật thì mới được! Lúc đó thì có thể thờ tượng Phật. Trường hợp thứ hai là tuy không sanh bệnh, tâm cầu vãng sanh thiết tha, hy vọng vãng sanh sớm hơn, hy vọng được gặp Phật sớm hơn, tuyệt đối không dùng tâm giải đãi, kiêu mạn để cúng dường, mà là vô cùng cung kính; giống như con cái trong ngóng cha mẹ vậy, phải dùng tâm vô cùng kiền thành, hiếu kính mới được. Chúng ta nhất định phải hiểu việc này. Chẳng phải nói cúng dường tượng Phật thì Phật, Bồ tát sẽ che chở, gia trì, trong phòng mình có yêu ma quỷ quái, cúng dường hình tượng Phật, Bồ tát để tránh tà, hoặc thờ tượng Phật coi như thưởng thức tác phẩm nghệ thuật, vậy thì sẽ có tội lỗi, vậy là tuyệt đối không được. Cho nên: “Phàm nơi có hình tượng Tam bảo thì nơi đó giống như đại hùng bảo điện vậy”, lời khai thị này của đại sư Ấn Quang rất có lý, chúng ta phải y giáo phụng hành.

  Phía sau nói “làm khám thờ”, khám là căn nhà nhỏ để cúng dường tượng Phật, dùng đất, dùng gạch, dùng trúc, dùng gỗ đễ làm khám đều được. Hiện nay người Trung Quốc chẳng đòi hỏi làm cho được tỉ mỉ, còn người Nhật rất chăm chút khi làm khám, bất luận là tượng Phật lớn, tượng Phật nhỏ, người Nhật đều nhất định phải làm khám để thờ, khi cúng thì họ mở cửa khám này ra, cúng xong thì họ đóng cửa lại, như vậy rất có lý. Thật ra người Nhật học được từ thời Tùy Ðường và vẫn giữ gìn mãi cho đến ngày nay, họ chẳng thay đổi, tinh thần này của người Nhật rất đáng cho chúng ta học theo, không thay đổi những lời dạy của cổ thánh tiên hiền. “Trong đó có thể tô vẽ, thậm chí đúc hình tượng của Ðịa Tạng Bồ tát bằng vàng bạc”, cúng dường hình tượng Bồ tát trong khám thờ, hình tượng này vẽ cũng được, tô đắp cũng được. Bất luận dùng chất liệu gì để làm, phía sau nêu lên vài thí dụ, vàng, bạc, đồng, thiết đều thuộc về kim loại, dùng gỗ để điêu khắc cũng được, dùng đất sét đắp cũng tốt.

  Bạn có thể cúng dường, “đốt hương cúng dường, chiêm lễ tán thán”. Ý nghĩa của việc cúng dường hình tượng Ðịa Tạng Bồ tát là gì, chúng ta nhất định phải hiểu. Thứ nhất là làm cho chúng ta khởi lên tâm lễ kính, Phổ Hiền Bồ tát dạy chúng ta phương pháp tu hành, trong mười cương lãnh thì thứ nhất là “Lễ kính chư Phật”, nhìn thấy hình tượng Phật, Bồ tát thì liền khởi lên tâm lễ kính. Chúng ta phải dùng tâm lễ kính chư Phật, Bồ tát trong đời sống hằng ngày, đối với mọi người cũng lễ kính như vậy, đối với mọi sự việc đều phải lễ kính. Kính sự tức là hết lòng phụ trách, tận tâm tận lực làm việc đó cho viên mãn, đó nghĩa là lễ kính đối với sự việc. Ðối với vật cũng như vậy, đối với bàn ghế chúng ta cũng phải lễ kính, chẳng phải là lễ lạy, mà là sắp xếp những vật này cho ngay ngắn, lau chùi sạch sẽ, đó là lễ kính. Nếu sắp méo xẹo, trong đó đóng bụi, dơ dáy không lau chùi thì đó là không kính. Do đó đối người, đối sự, đối vật chỉ có một tâm chân thành cung kính, đó là ý nghĩa thứ nhất của việc cúng dường hình tượng Phật, Bồ tát, chúng ta thật sự đạt được thọ dụng chân chánh.

  Ý nghĩa thứ hai là “nhìn thấy thánh hiền thì nghĩ mình phải học theo cho giống”, Phật, Bồ tát cũng là từ phàm phu tu thành, ngày nay các ngài thành Bồ tát, thành Phật, tại sao chúng ta còn là phàm phu, do đó chúng ta phải noi gương Bồ tát, học theo Bồ tát, đời này chúng ta cũng phải làm Phật, làm Bồ tát, thúc đẩy ý chí hướng thượng của chúng ta, đây là ý nghĩa thứ nhì.

  Ý nghĩa thứ ba là khi nhìn thấy hình tượng Phật, Bồ tát, thì liền nghĩ đến lời dạy của Phật, Bồ tát, nhìn thấy hình tượng Ðịa Tạng Bồ tát liền nghĩ đến lời dạy của đức Thế Tôn trong kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện. Chúng ta phải ghi nhớ kỹ lưỡng, phải giải sâu nghĩa thú, y giáo phụng hành. Do đó cúng dường hình tượng Phật, Bồ tát có ba ý nghĩa này, chẳng phải là mê tín, phần đông người ta nói chúng ta cúng dường hình tượng Phật, Bồ tát là cúng bái ngẫu tượng, đó là sai rồi, họ hoàn toàn hiểu lầm. Do đó có thể biết việc cúng dường tượng Phật, Bồ tát trong nhà Phật có ý nghĩa rất sâu, rất rộng; nói tóm lại thì đó là giáo học, chẳng lìa giáo dục, hơn nữa trong đó có ý nghĩa quay trở về cội gốc, báo đáp ân đức cội nguồn. Chúng ta làm đệ tử Phật, bất luận tại gia, xuất gia, khi gặp người có hoài nghi, chúng ta phải giải thích, làm cho họ hiểu sự lợi ích chân thật của sự cúng dường hình tượng Phật, Bồ tát. Lợi ích này là lợi ích thân thiết với mình, lợi ích ngay trước mắt, chẳng có gì là mê tín! “Chiêm lễ tán thán”, tán thán tức là giải thích, diễn thuyết cho người. Tự mình y giáo phụng hành là tán thán, vì người diễn nói cũng là tán thán.

       Do đó, trên mặt sự tướng có cần phải mỗi ngày lễ lạy Địa Tạng Bồ tát hay không? Cần chứ, rất cần! Cần xưng niệm hay không? Cần chứ! Chúng ta chuyên tu Tịnh Tông, mỗi ngày lễ Phật A Di Đà, xưng niệm A Di Đà Phật thì cũng được. Nếu chúng ta kính ngưỡng Địa Tạng Bồ tát thì có thể thỉnh một tượng Địa Tạng Bồ tát thờ ở một bên tượng A Di Đà Phật, chúng ta xưng niệm A Di Đà Phật thì đã bao gồm Địa Tạng Bồ tát trong đó; chúng ta lễ Phật A Di Đà thì cũng bao gồm Địa Tạng Bồ tát ở trong đó, như vậy dễ đạt được nhất tâm. Chẳng cần phải niệm bao nhiêu tiếng A Di Đà Phật, lại niệm thêm bao nhiêu tiếng Địa Tạng Bồ tát, rồi lại niệm bao nhiêu tiếng Quán Âm Bồ tát, như vậy thì sẽ phân tâm. Do đó chúng ta thờ Tây phương Tam thánh, niệm một câu A Di Đà Phật thì đã niệm hết thảy, như vậy thì dễ nhiếp tâm hơn.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 40 và 46, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

 39. BỘ KINH CỨU MẠNG TRONG THỜI ĐẠI MẠT PHÁP

Xin xem tiếp kinh văn:

  Nhược vị lai thế trung hữu thiện nam tử thiện nữ nhân cúng dường Bồ tát, cập chuyển độc thị kinh, đản y Địa Tạng Bổn Nguyện kinh nhất sự tu hành giả, nhữ dĩ bổn thần lực nhi ủng hộ chi, vật lịnh nhất thiết tai hại cập bất như ý sự triếp văn ư nhĩ, hà huống lịnh thọ.

  Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào cúng dường Bồ tát cùng đọc tụng kinh điển này, dù chỉ y theo một việc trong kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện mà tu hành, thì ông nên dùng thần lực của mình mà ủng hộ, chớ để mọi tai hại cùng sự không vừa ý lọt vào tai người đó, huống nữa là để cho phải chịu đựng[91].

  Chúng ta coi đoạn này, đức Phật Thích Ca Mâu Ni giao phó việc hộ trì chúng sanh cho địa thần, phó chúc cho địa thần làm việc hộ pháp, hộ trì những người y giáo phụng hành. Cửu Hoa là đạo tràng của Bồ tát, là nơi Bồ tát giáo hóa chúng sanh, nếu chúng ta hiểu rồi thì biết sẽ nên làm gì. Chúng ta nên phát tâm cúng dường đạo tràng này, nên phát tâm xây dựng làm cho đạo tràng này tỏa rạng rộng lớn. Chúng ta phải giúp Kiên Lao địa thần, giúp Địa Tạng Bồ tát, hoằng dương tinh thần của Địa Tạng tới khắp nơi trong nước, hoằng dương tới toàn thế giới, chúng ta sẽ được phước vô lượng vô biên.

  Giảng tới đoạn kinh này làm cho chúng tôi có cảm xúc rất sâu, sau khi đức Thế Tôn diệt độ, trước khi vị Phật kế là đức Phật Di Lặc xuất hiện trên thế gian, đoạn thời gian này vô cùng lâu dài, trong kinh Di Lặc Hạ Sanh đức Phật nói với chúng ta, dùng cách tính của thế gian chúng ta là khoảng chừng hơn năm mươi sáu ức năm[92]. Trong đoạn thời gian dài đăng đẳng này chẳng có Phật xuất thế, chẳng có người giáo hóa chúng sanh, chúng sanh chẳng được nghe thiện pháp, sẽ thuận theo tham, sân, si, mạn của mình tạo vô lượng vô biên tội nghiệp, nhận chịu khổ báo, khổ chẳng nói nổi. Thế Tôn đại từ đại bi phó thác trách nhiệm giáo hóa chúng sanh cho Địa Tạng Bồ tát. Nói cách khác khi Phật chẳng trụ thế, Địa Tạng Bồ tát thay thế đức Phật, địa vị của Địa Tạng Bồ tát chẳng giống như những Bồ tát khác. Như Kiên Lao địa thần đã nói phía trước, những Đại Bồ tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm cũng đều vô cùng từ bi giáo hóa chúng sanh, Thế Tôn chẳng nhờ họ mà đặc biệt giao phó trọng trách này cho Địa Tạng Bồ tát, chúng ta thử nghĩ coi nguyên nhân là gì? Chúng ta có thể hiểu được.

  Ở những địa phương chẳng có Phật pháp, chúng sanh quen thói tạo tội nghiệp, làm thế nào mới có thể cứu độ những chúng sanh này tránh khỏi phải đọa vào tam ác đạo, mọi người hãy suy nghĩ phải dùng phương pháp gì để dạy họ? Phương pháp có thể cứu vãn chẳng có gì hơn là “Hiếu kính”, bạn dùng hiếu kính để khuyên lơn những chúng sanh đang tạo tội nghiệp, họ có thể tiếp nhận. Giúp mọi người thiết lập từ trong tâm, chữ Địa là tâm địa, chữ Tạng nghĩa là những trí huệ đức năng chân thật chứa đựng trong tâm địa, đó là kho báu chứa trong tâm địa. Do đó pháp môn này đối với chúng sanh trong đoạn thời gian năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm này là pháp môn khế cơ nhất. Do đó muốn giúp đỡ chúng sanh, cứu tế chúng sanh khỏi đọa ác đạo thì kinh này là kinh cứu mạng, kinh này dạy chúng ta đứng vững trong cõi người, cõi trời, chẳng mất thân người, chẳng đọa ác đạo, công đức lợi ích vô cùng thù thắng của kinh Địa Tạng là ở chỗ này.

Dùng kinh này làm nền tảng, dùng kinh Vô Lượng Thọ và các kinh luận vãng sanh giúp chúng ta siêu việt lục đạo luân hồi, siêu việt thập pháp giới, trong một đời làm Phật làm Tổ, đây là pháp môn bất nhị để cho Phật độ chúng sanh trong thời Mạt pháp. Nhưng đời Mạt pháp chỉ kéo dài chín ngàn năm, sau chín ngàn năm kinh này chẳng còn nữa, chúng sanh rất khổ, hoàn toàn phải nhờ Địa Tạng Bồ tát thị hiện, đó chẳng phải là Phật thuyết kinh Địa Tạng đó hay sao? Địa Tạng Bồ tát phải giúp đỡ hết thảy chúng sanh. Chúng ta có thể tưởng tượng Địa Tạng Bồ tát nhất định sẽ giúp chúng sanh đoạn mười điều ác, tu mười điều thiện, hiếu thuận cha mẹ, tôn kính sư trưởng, như vậy mới tránh khỏi đọa ác đạo. Cho nên pháp môn Địa Tạng Bổn Nguyện đối với bất cứ một ai cũng đều vô cùng quan trọng, vô cùng thân thiết, chúng ta phải phát tâm sốt sắng tu học, sốt sắng tuyên dương.

  Chữ quan trọng trong đoạn kinh này là “cúng dường”, “chuyển đọc”, “chỉ y theo và tu hành theo một thứ trong kinh này”, tất cả đều dạy chúng ta chuyên tu, chuyên hoằng. Trong chú giải trích lời Phật dạy: “Trụ tâm ở một chỗ, chẳng có việc gì không thành”, việc quý nhất trong thế gian và xuất thế gian là nhất tâm, chuyên tinh chẳng có gì không thể thành tựu, sợ nhất là phân tâm, học quá nhiều môn, học quá tạp thì sẽ không có cách gì thành tựu được. Không phải chỉ có Phật pháp như vậy, ngay cả thế pháp muốn thành tựu cũng rất khó. Thế pháp có nghiệp nhân quả báo của thế pháp, Phật pháp muốn thành tựu phải hoàn toàn nhờ tinh tấn, trong kinh đức Phật thường nói có ba thứ thiện căn trong thế pháp là không tham, không sân, không si; còn thiện căn xuất thế chỉ có một thứ, đó chính là tinh tấn. Tinh nghĩa là chuyên nhất, thuần nhất chứ không tạp. “Trụ tâm ở một chỗ, chẳng chuyện gì không thành”, bạn mới có thể thành công.

Lúc tôi mới bắt đầu học Phật, sau khi xuất gia tôi liền đi dạy ở Phật Học Viện, tôi chưa làm học sinh. Lúc dạy ở Phật Học Viện, tôi có một quan niệm muốn nói với người phụ trách Phật Học Viện. Tôi hy vọng Phật Học Viện có một phương thức tốt, để cho mỗi học sinh chuyên học một bộ kinh, hoặc một bộ luận, hy vọng học sinh có thể tập trung toàn thể tinh thần, sức lực chuyên chú vào một môn, chứ đừng học thật nhiều, thật tạp, tôi nghĩ như vậy rất khó thành tựu. Nếu trong Phật Học Viện có một trăm người, hai trăm người, mỗi người học một bộ kinh thì sẽ được một trăm bộ kinh, hai trăm bộ kinh, mỗi bộ kinh đều có chuyên gia.

Học kinh Địa Tạng thì cả đời chuyên chú vào kinh Địa Tạng. Mỗi ngày chuyên niệm kinh Địa Tạng, chuyên tu y theo kinh Địa Tạng, chuyên giảng kinh Địa Tạng, người này chính là Địa Tạng Bồ tát, sẽ là chuyên gia, hạng nhất trên thế giới. Ở đâu muốn thỉnh người giảng kinh Địa Tạng thì thỉnh Địa Tạng Bồ tát đi giảng. Người chuyên học phẩm Phổ Môn, cả đời chỉ chuyên chú vào bộ kinh này, y theo phẩm Phổ Môn để tu hành, mỗi ngày đọc tụng phẩm Phổ Môn, giảng phẩm Phổ Môn, người này chính là Quán Âm Bồ tát. Chẳng nên học nhiều, học tạp, chỉ học một môn, làm chuyên gia, đừng làm thông gia, làm thông gia rất khó, thông gia nhất định phải đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh mới có thể làm được, phàm phu căn tánh trung hạ tuyệt đối không thể. Nhưng người hạ hạ căn nếu chuyên tu, chuyên chú vào một môn thì có thể thành tựu. Tại sao vậy? – Đặt tâm vào một chỗ, chẳng có chuyện gì không thành!

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 41, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

40. CHUYÊN TU CHUYÊN HOẰNG TỰ LỢI CÙNG LỢI THA

Xin xem đoạn cuối hàng thứ ba trong chú giải, chúng ta bắt đầu coi từ câu này, tôi đọc cho mọi người nghe: “Kim chuyên độc bất tư nghị khai hiển chi kinh” (Nay chuyên đọc kinh mở mang trí huệ hiển thị chân lý chẳng thể nghĩ bàn), câu này quan trọng. Cho nên kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện nói thật ra, cùng kinh Vô Lượng Thọ, kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm đều cùng một loại. Kinh Vô Lượng Thọ vừa mở đầu liền nói với chúng ta: “Khai hóa hiển thị chân thật chi tế”“bất tư nghị khai hiển” đều có cùng ý nghĩa. Vậy thì Hoa Nghiêm không cần nói nữa, ở đây chúng ta đã giảng được bảy mươi buổi, tuy kinh văn được giảng không kể là dài, nhưng giảng rất kỹ lưỡng. Chư vị đều thể hội được “bất tư nghị khai hiển chi kinh”, cả ba bộ kinh này đều là kinh khai hiển chẳng thể nghĩ bàn.

“Tội đốn tiêu nhi công tốc thành, hà sự đa cầu, tạp loạn tâm chí” (Tội tiêu mau lẹ, công chóng thành tựu. Cần gì phải mong cầu cho nhiều đến nỗi tâm chí tạp loạn), đây là lời khuyên chúng ta chỉ y theo một việc dạy trong kinh Địa Tạng Bổn Nguyện mà tu hành. Kinh Hoa Nghiêm lớn, nếu bạn có thể chuyên y theo một phẩm, một chương mà tu hành thì đều thành tựu công đức chẳng thể nghĩ bàn, cho nên “tội đốn tiêu”, diệt tội nhanh chóng, công đức thành tựu rất nhanh chóng. “Hà sự đa cầu, tạp loạn tâm chí”, hai câu này vô cùng quan trọng! Ngày nay có bao nhiêu đại đức nhỏ tuổi tại gia, xuất gia dũng mãnh tinh tấn, nhưng tới cuối cùng chẳng có thành tích tốt đều vì họ học quá nhiều, tu quá tạp.

  Kinh nghiệm trong đời này cho tôi biết, tôi chuyên tu chuyên hoằng, một môn thâm nhập, tôi chuyên y theo kinh A Di Đà, lúc về già giảng kinh Vô Lượng Thọ, kinh Vô Lượng Thọ chính là đại bổn của kinh A Di Đà, tôi dồn sức vào bộ Yếu Giải kinh Di Đà của đại sư Ngẫu Ích, Sớ Sao của đại sư Liên Trì, công sức cả đời của tôi được dồn vào hai bộ này. Giảng những kinh khác đều vì nhận lời mời, thấy chẳng có ai giảng nên mới giảng. Vì lúc đó (lúc bắt đầu học giảng kinh), tôi phải tập giảng trên giảng đài, tôi phát tâm giảng kinh, kinh nghiệm trên giảng đài vô cùng quan trọng, người học giảng kinh không thể lìa khỏi giảng đài.

Đây là lời thầy Lý đã từng dặn dò, thầy nêu một thí dụ: “Khúc bất ly khẩu, quyền bất ly thủ” (khúc điệu chẳng lìa miệng, bài quyền chẳng rời tay). Chữ khúc chỉ ca khúc trong ca hát, người ca sĩ mỗi ngày phải ca hát, mỗi ngày đều phải luyện giọng, người đánh võ mỗi ngày cũng phải luyện tập, ba tháng không luyện tập thì gân cốt gì cũng cứng ngắc. Giảng kinh cũng vậy, mỗi ngày phải lên giảng đài luyện tập. Do đó người ta mời tôi giảng kinh gì thì tôi giảng kinh đó, tôi coi đó là cơ hội thực tập, thâu thập kinh nghiệm trên giảng đài. Nếu theo ý của tôi để giảng thì tôi chỉ giảng kinh Di Đà mà thôi, tôi sẽ không giảng kinh khác, nhưng nếu tôi chỉ giảng kinh này mà thôi thì nhiều người không thích, họ thích nghe kinh này kinh nọ, tôi phải hằng thuận chúng sanh. Khi hằng thuận chúng sanh cũng học tùy hỷ công đức, tùy hỷ công đức là gì? Kết pháp duyên với mọi người, thu thập kinh nghiệm trên giảng đài, là đạo lý như vậy.

  Ngoài ra còn một nguyên nhân khác, vì người giảng kinh quá ít, nên tôi phải giảng thêm vài bộ kinh để lưu lại băng thâu âm, thâu hình cho kẻ hậu học làm tài liệu tham khảo, giúp đỡ cho kẻ hậu học, đây cũng là một nguyện vọng của tôi. Cho nên những gì tôi giảng chẳng phải là những gì tôi học, những gì tôi học chính là một bộ kinh A Di Đà. Do đó tu hành theo một sự dạy trong kinh là vô cùng quan trọng! Buông xuống hết thảy thân tâm thế giới, ngay cả Phật pháp cũng phải buông xuống. Phật dạy chúng ta: “Pháp còn phải xả, huống chi là phi pháp”. Lúc về già ở đây tôi giảng qua một bộ kinh Kim Cang, cũng giảng khá tường tận, bộ kinh này là do Hàn Quán Trưởng và một vị đồng tu ở đây là cư sĩ Trịnh Anh Lương khải thỉnh. Tôi nghĩ có một số người niệm Phật niệm không đúng như pháp, chẳng đạt được thọ dụng, cho nên họ mời tôi giảng cũng tốt, giảng cho họ nghe pháp môn Bát nhã, giúp cho họ nhìn thấu, giúp cho họ buông xuống, sau đó câu Phật hiệu này mới được đắc lực, dùng phương pháp này để trợ giúp công đức niệm Phật.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 41, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

41. BA ĐỜI CHƯ PHẬT TÁN THÁN CŨNG KHÔNG CÙNG TẬN

Xin xem kinh văn:

Ngã văn Thế Tôn dữ thập phương vô lượng chư Phật dị khẩu đồng âm tán thán Địa Tạng Bồ tát vân, chánh sử quá khứ hiện tại vị lai chư Phật, thuyết kỳ công đức do bất năng tận.

Con được nghe đức Thế Tôn cùng vô lượng chư Phật trong mười phương, khác miệng đồng lời ngợi khen Bồ tát Địa Tạng rằng dầu cho chư Phật trong thuở quá khứ, hiện tại và vị lai đều tuyên nói về công đức đó, vẫn chẳng thể nói hết được[93].

Chúng ta biết được chân tướng sự thật này từ Quán Thế Âm Bồ tát. Chẳng phải chỉ có một mình đức Phật Thích Ca Mâu Ni tán thán Địa Tạng Bồ tát, mười phương chư Phật cùng thốt ra một lời, chẳng ai không tán thán Địa Tạng Bồ tát. Hết thảy chư Phật Như Lai cùng tán thán công đức của Địa Tạng Bồ tát cũng chẳng hết. Phía sau nói: “Dù chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai”, tức là chư Phật mười phương ba đời nói về công đức của Địa Tạng Bồ tát cũng nói chẳng hết. Địa Tạng tượng trưng cho cái gì? Chư vị phải biết Địa Tạng tượng trưng cho “hiếu dưỡng cha mẹ, tôn kính sư trưởng”, công đức của Địa Tạng Bồ tát tức là công đức của Hiếu thân tôn sư.

Phía trước đã báo cáo với chư vị đồng tu rồi, sau khi diệt độ tại sao đức Phật Thích Ca chẳng giao phó việc giáo hóa chúng sanh cho những Bồ tát khác mà phải đặc biệt giao phó cho Địa Tạng Bồ tát? Tại sao không giao cho Quán Thế Âm Bồ tát? Phía trước cũng đã nói với chư vị rồi, giao cho Quán Thế Âm Bồ tát thì ngài không làm nổi. Giao cho Văn Thù, Phổ Hiền, thì hai ngài cũng không làm nổi. Giao phó cho Địa Tạng Bồ tát, Địa Tạng Bồ tát tượng trưng cho hiếu kính, hiếu kính là cội rễ; Quán Thế Âm Bồ tát là hiếu kính phát triển rộng ra, nếu chẳng có cội rễ thì làm sao phát triển rộng ra? Do đó chúng ta nhất định phải hiểu đạo lý này. Từ đó bạn mới biết chúng ta học Phật phải học từ chỗ nào? Phải học từ Hiếu thân tôn sư. Ngày nay xã hội động loạn, nguyên do của sự động loạn này là ở chỗ nào? – Ở chỗ mê mất Địa Tạng, chẳng biết Hiếu thân tôn sư!

Do đó cội rễ của sự an nguy, trị an, họa hại của xã hội ở tại gia đình, cội rễ của gia đình ở tại vợ chồng. Giáo học thế gian và xuất thế gian đều biết đạo lý này, đều tốn rất nhiều tâm huyết để giáo huấn vun bồi cội rễ này, hy vọng mọi người giác ngộ. Hai người kết hợp thành vợ chồng chẳng phải là chuyện của hai người, mà đối với xã hội cả hai đều có trách nhiệm. Hai vợ chồng chẳng hòa hợp thì gia đình sẽ rạn nứt, gia đình đổ vỡ thì xã hội sẽ động loạn, người trên toàn thế giới sẽ chịu ảnh hưởng, sẽ chịu vạ lây, có ai hiểu được đạo lý này? Giáo dục của nhà Phật rất coi trọng gia đình, giáo học nhà Nho dạy: “Giữ vẹn luân thường, làm tròn trách nhiệm”. Ngày nay xã hội động loạn, mọi người đều sơ ý giáo dục gia đình, cho nên nếu bạn không biết nguyên do gây ra động loạn, gây ra tai họa từ nơi nào thì bạn làm sao phòng ngừa? Bạn làm sao có thể cứu vãn? Người trong một nhà tụ hội với nhau đương nhiên đều có nguyên nhân, trong kinh đức Phật dạy con người tụ hội với nhau có bốn nguyên nhân: Báo ân, báo oán, đòi nợ, trả nợ. Ân ân oán oán chẳng bao giờ dứt, đây là chân tướng sự thật.

  Tại sao con người phải tiếp nhận giáo dục? Tạo sao phải tiếp nhận giáo huấn của thánh hiền? Vì thánh hiền hiểu rõ chân tướng sự thật, sau khi hiểu rõ thì bạn mới có thể hóa giải. Dù người trong một gia đình đều vì báo oán mà hợp lại, người hiểu biết cũng có thể tìm cách hóa giải, tấm gương sáng ở Trung Quốc là vua Thuấn, mọi người trong nhà vua Thuấn đều vì báo oán mà tụ hợp, chẳng vì báo ân. Cả nhà bất hòa, vua Thuấn có trí huệ, biết tận hiếu, có thể hóa giải oán thù trong nhà, có thể làm cho người trong nhà tôn trọng lẫn nhau, tương thân tương ái, hợp tác lẫn nhau, nói theo Phật pháp thì đây là Bồ tát. Bồ tát chẳng tránh né khi gặp oán gia trái chủ mà sẽ tìm cách hóa giải oán thù; tránh né chẳng thể giải quyết vấn đề, đời sau kiếp sau cũng sẽ gặp lại, người hiểu rõ phải biết tìm cách hóa giải, do đó oan gia nên giải chớ nên kết. Nhỏ thì là người trong một nhà, phải có trí huệ phải nhẫn nại tìm cách hóa giải, giải oan mở kết, vun bồi ân nghĩa thì cả nhà sẽ tự nhiên hòa hợp, có hòa hợp thì nhà này mới hưng vượng, việc này có đạo lý của nó. Đây là khái niệm căn bản, khóa trình cơ sở trong sự giáo hóa chúng sanh của Địa Tạng Bồ tát, do đó cho dù ba đời chư Phật Như Lai tán thán công đức lợi ích này cũng tán thán không hết.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 44, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

42. TẤT CẢ NHỮNG SỞ NGUYỆN ĐỀU THÀNH TỰU NHƯ Ý

Xin xem tiếp kinh văn:

Phục thứ Quán Thế Âm! Nhược vị lai thế hữu thiện nam tử thiện nữ nhân, dục cầu hiện tại vị lai bách thiên vạn ức đẳng nguyện, bách thiên vạn ức đẳng sự, đản đương quy y, chiêm lễ, cúng dường, tán thán Ðịa Tạng Bồ tát hình tượng, như thị sở nguyện sở cầu tất giai thành tựu.

Lại nữa, này Bồ tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn cầu trăm ngàn vạn ức điều nguyện, trăm ngàn vạn ức sự việc về hiện tại cùng vị lai, chỉ nên quy y, chiêm lễ, cúng dường, ngợi khen hình tượng của Bồ tát Địa Tạng; thì các điều sở nguyện sở cầu như thế ắt đều thành tựu cả[94].

Ðây là đoạn thứ năm, dùng cách hiện nay để nói chính là có cầu ắt ứng, có nguyện ắt thành. Đây là nói về người thế gian, bất luận là trong quá khứ hay trong hiện tại, bất luận là người Trung Quốc hay ngoại quốc, có thể nói chẳng có một chúng sanh nào chẳng mong cầu như vậy. Ai cũng có mong cầu, mấy ai trong đời có thể thỏa mãn tâm nguyện của mình? Chắc chắn là người mong cầu rất nhiều, người thật sự được toại nguyện vô cùng hiếm hoi. Người thế gian có mong cầu, khi nguyện ấy được toại nguyện, đại đa số đều là trong mạng của người đó có sẵn. Họ cầu tiền tài, trong mạng người ấy đích thật có tiền tài, khi thời cơ, nhân duyên chín muồi thì họ sẽ phát tài. Trong mạng họ có địa vị, tới lúc thời cơ nhân duyên chín muồi thì họ sẽ được làm quan, đó đều là trong mạng có sẵn.

Sự mong cầu nói trong đoạn này là trong mạng bạn chẳng có, chẳng có mà bạn cầu được mới gọi là có cầu ắt ứng. Trong mạng có sẵn thì không tính, đây là trong mạng chẳng có, nếu chẳng có mà muốn cầu được thì rất khó, chẳng dễ đâu. Ðây là oai thần chư Phật Bồ tát gia trì, nói thật ra gia trì vẫn thuộc về tăng thượng duyên, thật sự nguyên nhân chủ yếu cũng là chính mình, chính mình y theo lời dạy của Phật, sốt sắng nỗ lực tu học, bây giờ tu thì bây giờ được cảm ứng. Ðây chẳng phải là do đời trước, mạng đời trước của bạn chẳng có, là do bạn tạo ngay bây giờ. Chúng ta phải hiểu rõ quan hệ nhân quả trong đó, hiểu rành rẽ thì bạn sẽ không ngờ vực, và cũng không trách Phật, Bồ tát bảo hộ người khác mà chẳng bảo hộ bạn? Vì họ làm theo, bạn không làm theo, nếu bạn hiểu được việc này thì mới biết thật sự là có cầu ắt ứng.

  Phía trước nói người mong cầu, việc được mong cầu, trong kinh nói rất rõ ràng, đặc biệt nói “nếu trong đời tương lai”, trong đoạn này mỗi một tiết đều nói về đời vị lai, thời đại hiện nay của chúng ta thuộc “đời vị lai” này. Ðiều kiện của người mong cầu, phát nguyện này nhất định phải là thiện nam tử, thiện nữ nhân, “thiện” là chữ then chốt; nếu không phải là thiện nam tử, thiện nữ nhân, bạn y theo phương pháp này để cầu chưa chắc sẽ được cảm ứng, do đó chữ này là chữ then chốt. Lúc trước tôi giảng kinh Ðịa Tạng có thính chúng từng hỏi, tại sao họ tu học y theo kinh điển này, họ rất thành tâm, rất thành khẩn, thiết tha, nhưng cầu không được? Do đó họ nghi ngờ lời dạy trong kinh không đáng tin, họ tới hỏi tôi.

Tôi chỉ chữ thiện này, tôi nói: “Ông có làm được tới tiêu chuẩn của chữ thiện này hay không?” Ông ta suy nghĩ và hiểu được rằng ông chưa làm đến tiêu chuẩn của chữ thiện này. Vì kinh này là kinh Ðại thừa, bạn tu học y theo phương pháp này, nguyện của bạn là nguyện nhỏ thì bạn chỉ cần có thiện nhỏ là được. Nếu nguyện của bạn là nguyện to lớn thì bạn nhất định phải có thiện lớn. Tiêu chuẩn của thiện là Tam phước, bạn muốn cầu được sự việc thù thắng và quả báo thù thắng trong cõi trời và người, thì bạn phải làm việc thiện trong cõi trời người: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu mười nghiệp thiện”, bạn làm được hay chưa? Nếu bạn thật sự làm được thì bạn là thiện nam tử, thiện nữ nhân trong thế gian, phước báo thù thắng trong thế gian bạn có thể cầu được. Còn quả báo thù thắng xuất thế gian bạn chưa chắc sẽ cầu được, tại sao vậy? Tiêu chuẩn thiện ấy cần phải nâng cao lên mới được.

  Cho nên bạn mong cầu quả báo Nhị thừa thì nhất định phải: “Thọ trì Tam quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi”, ba câu này thoạt nghe hình như chẳng khó hiểu, nhưng thật ra chẳng dễ, chẳng dễ hiểu. Tam quy là gì? Hiện nay rất nhiều người coi nhẹ việc này, họ coi việc này rất đơn giản, rất dễ dàng. Cứ tìm pháp sư, ở trước tượng Phật niệm vài câu kệ thì tưởng là đã quy y, làm gì có chuyện tiện nghi như vậy? Quy là thật sự quay về, y là thật sự nương tựa. “Quy y Phật” là từ mê hoặc điên đảo quay lại, thật sự nương vào tự tánh giác. “Quy y Pháp” là từ tà tri tà kiến, tức là tư tưởng sai lầm, kiến giải sai lầm quay lại, nương vào chánh tri chánh kiến. “Quy y Tăng” là từ hết thảy ô nhiễm quay trở lại nương vào tâm thanh tịnh, dễ gì làm được như vậy? Ðây là thiện pháp xuất thế gian. Ðiều thứ nhất trong Tam phước là thiện pháp thế gian, điều thứ hai là thiện pháp xuất thế gian. Do đó có thể biết ngày nay chúng ta thọ Tam quy và thọ giới, người xưa nói chẳng sai, có danh không thật, tự mình phải hiểu rõ. Hiện nay người xuất gia thọ giới Tỳ kheo tự cho mình đã thuộc vào hàng Tỳ kheo, đại sư Ngẫu Ích nói đó là vọng ngữ. Họ chẳng đắc giới Tỳ kheo, cứ tưởng là mình là Tỳ kheo, lỗi này rất nặng.

Năm xưa, sau khi đại sư Ngẫu Ích thọ giới Tỳ kheo xong, ngài đối trước Phật Bồ tát trả lại giới, ngài trì giới Sa di. Vì không có Tỳ kheo, nên có thể thề trước Phật, Bồ tát để thọ giới Sa di, thọ giới Bồ tát cũng vậy, do đó cư sĩ tại gia có thể thọ giới Bồ tát và giới Sa di vì thọ hai giới này không cần có Tỳ kheo. Còn giới Tỳ kheo và Tỳ kheo ni cần phải có Tỳ kheo thật sự, nếu không có Tỳ kheo thật sự thì tuyệt đối không đắc giới. Do đó đại sư Ngẫu Ích cả đời tự xưng là Bồ tát giới Sa di, đây là Tổ sư đại đức làm gương cho chúng ta. Lão nhân gia tự xưng là Sa di, đồ đệ của ngài là pháp sư Thành Thời không dám xưng là Sa di.

Pháp sư Thành Thời chỉnh lý trước tác của đại sư Ngẫu Ích xong khắc ván lưu thông, công đức này rất lớn. Nếu không có pháp sư Thành Thời thì trước tác của đại sư Ngẫu Ích sẽ không được truyền cho hậu thế. Pháp sư Thành Thời tự xưng Bồ tát giới xuất gia Ưu bà tắc. Ngày nay chúng ta gọi Ưu bà tắc là cư sĩ, bạn coi pháp sư Thành Thời khiêm tốn như vậy đó. Tôi là cư sĩ xuất gia, các bạn là cư sĩ tại gia, đây là thân phận danh phù hợp với thật, là quan niệm và lý luận chính xác. Gần đây đại sư Hoằng Nhất là một vị rất thông thạo giới luật, ngài cũng tự xưng là Xuất gia Ưu bà tắc. Ðây là việc chúng ta nhất định phải hiểu, phải biết thân phận mình là gì thì mới không đến nỗi phạm sai lầm.

  Nhưng Xuất gia Ưu bà tắc có thể học Bồ tát không? Có thể học, Bồ tát xuất gia Ưu bà tắc đương nhiên có thể học Bồ tát. Ðiều thiện của Bồ tát nhất định phải phát tâm Bồ đề, phát tâm Bồ đề tức là thật sự phát Tứ hoằng thệ nguyện: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, bạn còn làm tổn thương hết thảy chúng sanh nữa sao? Bạn giúp họ còn không xuể thì làm sao có thể gây tổn thương cho họ? Nếu chúng ta bất mãn đối với bất cứ một chúng sanh nào, chê bỏ họ, dùng tâm sân hận để đối xử với họ thì tâm Bồ đề của chúng ta chẳng còn nữa. Tâm Bồ đề là tâm đại từ đại bi, thanh tịnh, bình đẳng, giác. Từ thanh tịnh, bình đẳng, giác sanh khởi đại từ bi, có tâm Bồ đề thì bạn mới có thể giúp đỡ hết thảy chúng sanh.

Muốn giúp đỡ hết thảy chúng sanh thì trước hết phải thành tựu đức hạnh, trí huệ của mình, do đó phải đoạn phiền não, đoạn tập khí, “phiền não vô biên thệ nguyện đoạn”; thành tựu học vấn và trí huệ của mình là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Sau đó “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”; ba nguyện sau là để hoàn thành nguyện thứ nhất, bạn thành Phật để làm gì? Ðoạn phiền não để làm gì? Bạn học pháp môn để làm gì? Thành Phật đạo để làm gì? Là để độ hết thảy chúng sanh, chẳng phải vì chính mình. Nếu nói đoạn phiền não là vì chính mình, học pháp môn cũng là vì chính mình thì đó là Tiểu thừa, Quyền giáo Bồ tát, họ chưa đoạn hết ngã chấp và pháp chấp, đương nhiên ngã chấp và pháp chấp của họ ít hơn phàm phu chúng ta quá nhiều, nhưng vẫn chưa sạch sẽ rốt ráo, chúng ta nhất định phải hiểu đạo lý này. Do đó chữ thiện ở đây là chữ then chốt, chúng ta đã thực hiện được chưa? Chúng ta có phải là thiện nam tử, thiện nữ nhân như trong kinh nói hay không? Đoạn này giải thích về “người có thể cầu” trước.

Tiếp theo sau là nói về những việc mong cầu. Những việc mong cầu rất rộng, rất nhiều, chuyện bạn mong cầu không có gì không toại nguyện. Chú giải ghi rất hay, chúng ta hãy đọc thử “nguyện niệm tại nội” (nguyện vọng và ý niệm ở bên trong) bạn có nguyện, có ý niệm mong cầu, có ý: “Sự tướng cứ ngoại” (sự tướng ở bên ngoài), việc bạn mong cầu ở bên ngoài. “Ước thế xuất thế gian, tắc hữu bách thiên vạn ức” (Trong thế gian, xuất thế gian, có trăm ngàn vạn ức), chuyện bạn mong cầu quá nhiều, nói chẳng hết. “Hoặc cầu hiện sanh quả toại” (hoặc cầu đời này được quả báo toại nguyện), hoặc cầu trong đời này nguyện vọng của bạn đều được xứng tâm như ý, “toại” nghĩa là xứng tâm như ý. “Hoặc kỳ tha thế tùng tâm” (hoặc mong cầu đời sau sự việc xứng tâm vừa ý), hoặc hy vọng đời sau, việc bạn mong cầu chẳng phải là đời này, mà đời sau có quả báo thù thắng.

Sau đó pháp sư dẫn Ðịa Tạng Thập Luân kinh, kinh nói: “Thử thiện nam tử, tùy sở tại xứ, nhược chư hữu tình, hoặc vi đa văn” (Người trai lành ấy ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu tình vì muốn được đa văn), ở đây nêu vài thí dụ, hy vọng trong đời này có cơ duyên tốt có thể nghe được Phật pháp. Hoặc là tịnh tín, tịnh giới, tịnh lự, tịnh lự là thiền định, đó là thần thông, bát nhã, giải thoát, diệu sắc thanh, hương, vị, xúc, lợi dưỡng, danh văn, công đức, hoa quả, rừng cây, giường chiếu, nhà cửa, v.v., đây là vài thí dụ, những gì người thế gian, xuất thế gian hy vọng mong cầu quá nhiều, quá nhiều. Tiếp theo là ngài dạy chúng ta phương pháp:

  Ðản đương quy y, chiêm lễ, cúng dường, tán thán Ðịa Tạng Bồ tát hình tượng, như thị sở nguyện sở cầu tất giai thành tựu.

Nên chỉ quy y, chiêm lễ, cúng dường, ngợi khen hình tượng của Bồ tát Địa Tạng thì các điều sở nguyện sở cầu như thế ắt đều thành tựu.

Ðoạn này thật ra chính là “Tu hành đúng như lời dạy” trong phẩm Hạnh Nguyện[95], đây là câu thứ nhất trong các pháp cúng dường. Chỉ cần bạn có thể thật sự cúng dường bằng cách tu hành đúng như lời dạy thì nguyện của bạn không khi nào chẳng được toại nguyện, bạn đều có thể đạt được. Do đó nhất định phải hiểu ý nghĩa của câu này thật rõ ràng, thật thấu triệt, bốn chữ “quy y cúng dường” này quan trọng nhất. Quy là quay về, từ hết thảy những sai lầm của chúng ta thật sự quay lại, quay về nghĩa là sám hối. Lúc tôi mới học Phật, đại sư Chương Gia[96] dạy tôi: “Trong cửa nhà Phật, có cầu ắt ứng”, đây là thật chứ chẳng giả. Lúc bạn có cầu nhưng không ứng được, chẳng có cảm ứng là vì nguyên nhân gì? Vì chính bạn có nghiệp chướng, chỉ cần bạn sám hối, tiêu trừ nghiệp chướng thì cảm ứng sẽ hiện ra.

Tôi thỉnh giáo ngài làm sao sám trừ nghiệp chướng? Ngài dạy tôi bốn chữ: “Hậu bất tái tạo” (sau không làm nữa), nghe xong tôi hiểu được. Thiện tri thức thật sự chẳng nói dối, cũng không nói vòng vo dài dòng, lời ngài dạy vô cùng đơn giản, trọng yếu. Trong nhà Phật rất nhiều nghi thức sám hối đều chẳng cần thiết nếu bạn hiểu được bốn chữ trên. Khi biết bạn sai rồi, từ rày về sau không phạm lại cùng một sai lầm đó nữa, như vậy gọi là thật sự sám hối. Tôi học theo ngài ba năm, cách ngài dạy khác với cách dạy của các pháp sư, đại đức khác, làm cho chúng tôi cảm thấy rất hợp tình, hợp lý, hợp pháp, chẳng thể không khâm phục. Từ đó tôi mới hiểu tự biết mình phạm lỗi thì đó là giác ngộ; chữ “biết” đó chính là giác, bạn đã giác ngộ. Có thể sửa lỗi và cải chính trở lại là tu hành, là sám hối.

       Cho nên nhà Phật nói về chuyện tu hành, hai chữ “sám hối” đều bao gồm hết thảy chuyện tu hành, tức là không tái phạm những lỗi lầm giống vậy. Nhà Nho nói “bất nhị quá” (không phạm lỗi hai lần) chẳng khác những gì nhà Phật nói, lỗi chỉ có thể phạm một lần, không thể phạm lỗi lần thứ hai, lần thứ nhất là vì bạn ngu si, sau khi hiểu xong và giác ngộ rồi không phạm lại lần thứ hai, đó là quay về, thật sự quay lại. Sau khi quay về thì đời sống chúng ta, hành vi chúng ta, xử sự đãi người tiếp vật nên noi theo cái gì? Noi theo lời dạy trong kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, đó gọi là quy y, bạn quy y Địa Tạng Bồ tát. Nếu chúng ta khởi tâm động niệm, lời nói hành động trái ngược với lời dạy trong kinh này thì chúng ta chẳng có quy y, chúng ta không có nơi nương dựa. Bạn không noi theo và làm theo lời dạy của Địa Tạng Bồ tát thì sự quy y đó là giả, có danh không thật! Mang tiếng là quy y nhưng không thật sự quy y, nói cho chư vị biết không những chẳng có lợi ích mà còn có tội lỗi nữa. Khi chưa quy y bạn phạm tội thì chỉ kết một tội; sau khi quy y, bạn đã biết rõ mà cố phạm thì bạn sẽ phạm hai tội. Đạo lý này không khó hiểu, tôi tin người có căn tánh bậc trung đều có thể hiểu rõ ràng. Cho nên người thiện là người thật sự quy y.

“Chiêm lễ” là tụng niệm hằng ngày, hiện nay chúng ta gọi là khóa tụng sáng tối, đây là để nhắc nhở chính mình, trong khóa tụng sáng tối bạn phải chiêm ngưỡng, lễ lạy hình tượng Địa Tạng Bồ tát. Lễ lạy là cung kính, biểu lộ lòng thành kính của mình, y giáo phụng hành. Chúng ta noi theo kinh luận nào để tu hành? Chúng ta không có khả năng học thuộc lòng hết bộ kinh, thì phải trích lục những lời dạy quan trọng trong kinh ghi ra rồi học thuộc lòng, mỗi ngày phải đọc cho thuộc. Đương nhiên nếu bạn có thời giờ thì mỗi ngày đọc kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện một lần cũng tốt, nói thật ra niệm một lần cũng chưa đủ, tại sao vậy? Không nhớ nổi! Vẫn phải chọn những lời dạy quan trọng rồi chép ra, cũng như cuốn Quy Tắc Tu Học Tịnh Tông vậy, chúng tôi chọn từ kinh Vô Lượng Thọ và chép ra sáu mươi điều để cho dễ nhớ. Chúng ta phải làm cho bằng được mỗi điều trong sáu mươi điều này. Chúng tôi cũng chọn sáu mươi điều từ kinh Đại Bảo Tích, từ kinh Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo. Trong kinh này, Thế Tôn chuyên nói về đời Mạt pháp, tức là thời đại hiện nay chúng ta, những lỗi lầm mà người xuất gia chúng ta thường phạm mà chính chúng ta cũng không biết, tự mình không biết mình đã phạm sai lầm, vẫn nghĩ là mình làm đúng. Đức Phật kể ra chúng ta mới bất chợt tỉnh ngộ, mỗi ngày đều tạo tội nghiệp mà còn cảm thấy là chính mình tu hành rất giỏi; tương lai rơi vào ba đường ác rồi còn không biết tại sao lại đọa lạc, bạn nói có đáng thương, có đáng sợ hay không? Do đó bộ kinh này rất quan trọng.

Lời khai thị của Thế Tôn đối với người xuất gia đời Mạt pháp, quở trách một số lỗi lầm chúng ta nên sửa đổi, chẳng phải chỉ nêu trong kinh này mà thôi. Nhưng chúng ta trích lục ra vài điều này, trước hết chúng ta phải sửa những lỗi lớn trước, sau đó mới sửa lỗi nhỏ. Nếu lỗi lớn không sửa nổi thì lỗi nhỏ sẽ không dễ gì sửa được, chẳng đạt được hiệu quả. Do đó phải thật sự tu hành y theo lời dạy trong kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, lời dạy trong kinh cũng phải chọn ra vài chục điều, bày trước mặt chúng ta, phải làm theo hằng ngày, đó gọi là “cúng dường bằng cách tu hành y theo lời dạy”, đó là việc tự tu. Không những chính bạn phải y giáo phụng hành, bạn còn phải giáo hóa chúng sanh, đó là pháp Đại thừa. Điều thiện của Bồ tát Đại thừa: “Phát Bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại thừa”, phía sau còn “khuyến tấn hành giả”, cho nên tự mình làm cũng chưa đủ, còn phải khuyên người ta làm theo.

“Tán thán Địa Tạng Bồ tát hình tượng”, chữ “hình tượng” này, nói cho chư vị biết chẳng phải là hình tượng do đúc nặn, tô vẽ mà có, các bạn suy nghĩ coi đây là hình tượng gì? Là hình tượng của Bồ tát Địa Tạng thị hiện trong nhân gian. Ngài dùng tâm gì khi xử sự, đãi người, tiếp vật, Ngài dùng thái độ như thế nào khi tiếp xúc với hết thảy người, hết thảy sự, hết thảy vật, đó gọi là hình tượng. Lời xưng tán, giảng giải công đức của Địa Tạng Bồ tát, đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng giải kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, kinh Địa Tạng Thập Luân, kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo, đó là chuyên tán thán hình tượng Địa Tạng Bồ tát. Cho nên mọi người đừng hiểu lầm rằng tạo một tượng Bồ tát là tán thán, nghĩ vậy thì sai rồi.

Chữ tán thán ở đây, một là vì người diễn thuyết, hai là làm gương cho người khác, bạn tu pháp môn Địa Tạng, bạn có giống Địa Tạng Bồ tát hay không? Hình tượng của bạn có phải là hình tượng của Địa Tạng Bồ tát hay không? Đó mới gọi là tán thán thật sự. Nếu bạn có thể làm như vậy, Địa Tạng Bồ tát trong thời kỳ Mạt pháp thay mặt Thế Tôn hoằng pháp lợi sanh, tiếp dẫn đại chúng, thì những gì bạn nguyện, bạn cầu đâu lẽ nào không thành tựu cho được? Chư vị nghĩ coi những gì bạn cầu, bạn nguyện là công đức trong tự tánh của bạn hiện tiền hay là do Phật, Bồ tát gia trì cho bạn? Cả hai đều có, tự tánh công đức là nhân, Phật, Bồ tát gia trì là duyên. Nếu chính mình không tu trì chân thật thì duyên của Phật, Bồ tát chẳng thể gia trì, các ngài muốn tạo tăng thượng duyên cho bạn cũng không được, chẳng giúp gì được. Nhất định tự mình phải có nhân, bạn có nhân thật sự, sau đó Phật, Bồ tát tạo trợ duyên cho bạn, quả sẽ thành tựu rất thuận lợi, đạo lý là như vậy.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 47, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

43. LƯU THÔNG KINH ĐỊA TẠNG LỢI ÍCH TẤT CẢ CHÚNG SANH

Mời mọi người xem kinh văn:

Thị cố Quán Thế Âm! Nhữ dĩ thần lực lưu bố thị kinh, lịnh Ta Bà thế giới chúng sanh, bách thiên vạn kiếp vĩnh thọ an lạc.

  Vì thế, này Quán Thế Âm! Ông hãy dùng thần lực mà lưu bố kinh này, làm cho chúng sanh ở thế giới Ta Bà trong trăm ngàn vạn kiếp luôn được hưởng sự an lạc[97].

Đây là lời đức Thế Tôn khuyên Quán Thế Âm Bồ tát phải lưu thông tuyên nói kinh này. “Lưu bố” nghĩa là diễn nói, lưu thông bộ kinh này, muốn lưu thông thì chính bạn phải tu học, chính mình nhất định phải làm được. Nếu bạn làm không được, bạn lưu thông cũng có công đức nhưng chuyển họa thành phước thì hơi khó khăn, chẳng nhanh chóng cho lắm. Nếu chính bạn quả thật có thể y giáo phụng hành thì chuyển cảnh giới rất nhanh. Hiện nay lưu thông bằng cách in kinh là phương pháp hay nhất, thời xưa lưu thông rất khó khăn, thời xưa phải chép kinh chứ chẳng có phương tiện ấn loát. Chúng ta coi những bài ghi chép bằng văn tự thời xưa, có một số trưởng giả giàu có chép kinh, họ mướn một số thư sinh chép kinh, chép một bộ, chép mười bộ, rất ít người có khả năng có thể chép một trăm bộ. Hơn phân nửa kinh chép xong rồi đem tới chùa miếu cúng dường, trong chùa có lầu chứa kinh, cung phụng ở đó cho người ta đọc tụng, cũng có người tới đó để sao chép, người xưa chép kinh vì thời xưa việc ấn loát không phát triển, rất khó khăn.

Vào những năm đầu thời Dân Quốc vẫn còn người chép kinh, hiện nay thì ít rồi, kỹ thuật ấn loát phát triển cho nên công đức làm việc lưu thông kinh điển ngày càng thuận tiện. Giống như cuốn chú giải này, pháp sư Thanh Liên là người triều vua Khang Hy, vào thời đó đã dùng phương pháp khắc ván để ấn loát, bản khắc gỗ phải khắc từng chữ từng chữ. Nếu bạn tới Kim Lăng Khắc Kinh Xứ ở Nam Kinh, bạn coi sách xỏ chỉ vẫn dùng từng tờ giấy mà in, hoàn toàn dùng sức người, dùng giấy Mao biên để in. Một người làm việc suốt ngày có thể in bao nhiêu cuốn? Tôi từng đi tham quan, tôi hỏi: “Ông có thể in bao nhiêu cuốn?” Họ nói có thể in khoảng tám cuốn, tám cuốn đó chẳng dầy bằng cuốn này. Sách xỏ chỉ, chư vị cũng biết, mỗi ngày có thể in tám cuốn, đâu tiện lợi bằng máy móc ấn loát bây giờ. Hiện nay chúng ta in sách lưu thông có thể dùng con số một vạn cuốn làm tiêu chuẩn, mỗi lần in tối thiểu là một vạn cuốn, thuận tiện hơn thời xưa quá nhiều. Ngày nay giảng thuyết có thể lưu lại băng ghi âm, băng thâu hình, có thể làm ra CD, đây là việc lưu thông kinh điển trong thế gian.

  Đức Phật dặn ngài Quán Thế Âm Bồ tát lưu thông, chúng ta nghe xong càng phải nỗ lực, lời dạy trong kinh này đích thật có thể vãn hồi kiếp vận trong chín ngàn năm đời Mạt pháp, việc này vô cùng quan trọng! Chín ngàn năm đời Mạt pháp, chúng ta đọc trong kinh này, sau khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ, ngài giao phó sứ mạng hoằng pháp lợi sanh cho Địa Tạng Bồ tát, ý này nói rõ trong đời Mạt pháp, dùng phương pháp này có thể cứu vãn kiếp vận, độ hết thảy chúng sanh, làm cho chúng sanh chẳng đến nổi phải bị đọa ác đạo.

“Lịnh Ta Bà thế giới chúng sanh, bách thiên kiếp vĩnh thọ an lạc” (làm cho chúng sanh trong thế giới Ta Bà vĩnh viễn thọ yên vui suốt trăm ngàn kiếp), đây là hiệu quả của việc lưu thông truyền bá kinh này. Hoằng pháp lợi sanh quan trọng nhất là phải khế cơ, khế lý, kinh này là lời dạy từ chân như tự tánh của đức Thế Tôn lưu lộ, không những là Đại thừa, chúng ta hãy quan sát kỹ lưỡng, đó đích thật là Đại thừa trong Đại thừa. Chẳng khác gì với Hoa Nghiêm, Vô Lượng Thọ, thật ra là một thể, đây là khế lý. Cảnh giới và phương pháp tu học nói trong kinh vô cùng khế hợp với căn cơ chúng sanh thời Mạt pháp, do đó ngày nay chúng ta tu học bộ kinh nào, cả đời chúng ta chuyên hoằng dương kinh nào thì chúng ta có thể hiểu rõ rồi.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 48, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

 44. QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT HOẰNG DƯƠNG KINH ĐỊA TẠNG

Sau cùng là phần tổng kết:

Quán Âm chí tâm thính ngô thuyết,

Địa Tạng vô tận bất tư nghị,

Bách thiên vạn kiếp thuyết bất châu,

Quảng tuyên Đại sĩ như thị lực.

Quán Âm hãy lắng nghe Ta nói,

Địa Tạng vô tận không nghĩ bàn,

Trăm ngàn muôn kiếp chẳng kể xiết,

Rộng tuyên Đại sĩ sức như vậy[98]!

  Trong Khoa Phán[99] có ghi: “Kết tụng phổ cáo lưu bố” (Kệ tụng kết thúc lưu truyền rộng rãi). Thế Tôn khuyến khích Quán Thế Âm Bồ tát lưu thông bộ kinh này, đương nhiên Quán Thế Âm Bồ tát sẽ đi khắp nơi giới thiệu hành nghị của Địa Tạng Bồ tát, tại sao vậy? Nếu không có cơ sở của Địa Tạng Bồ tát, thì lòng từ bi của Quán Thế Âm Bồ tát sẽ không có nơi nương tựa, lòng từ bi này từ đâu mà có? Từ Hiếu đạo tỏa rạng rộng ra! Sự tạo dựng hình tượng trong Phật pháp Đại thừa ở Trung Quốc rất có lý, dùng bốn Đại Bồ tát để tiêu biểu pháp, do đó Đại thừa phải bắt đầu từ đâu? Bắt đầu học từ Địa Tạng, Địa là tâm địa, chúng ta gọi là xây dựng tâm lý, vun bồi tâm lý là căn bản.

Ngày nay khoa học kỹ thuật trong thế gian ngày càng tân tiến, các thành phố lớn xây dựng cao ốc, những nhà lầu cao trên một trăm tầng ở các thành phố lớn đều có. Nhưng tại sao xã hội không thể an định? Tại sao đời sống không có hạnh phúc? Là vì sơ sót việc xây dựng tâm lý, chẳng có tâm lý lành mạnh, con người tùy thuận phiền não tập khí của chính mình, mọi người đều tranh danh đoạt lợi. Mạnh Tử nói: “Nếu trên dưới đều cùng nhau tranh lợi thì quốc gia sẽ lâm vào nguy cơ”, chúng ta hãy coi thế giới hiện nay, đúng như câu nói trên của Mạnh Tử, nhiều người không tin? Nếu không tin thì phải đợi đến cuối thế kỷ mới tính, đây là điều chúng ta thường lo sợ. Muốn tiêu tai miễn nạn thì phải nhờ xây dựng tâm lý, mỗi người đều biết Hiếu đạo, tin chắc Hiếu đạo, đều dùng tâm hiếu kính để đối xử với mọi người, dùng tâm đại từ đại bi giúp đỡ hết thảy chúng sanh thì tai nạn trong thế gian sẽ được hóa giải, sẽ biến thành mây khói ngay lập tức.

  Cho nên chúng ta biết Địa Tạng Bồ tát, pháp môn Địa Tạng là cội rễ, tôi đã từng nói qua rất nhiều lần. Phật pháp chẳng có gì khác ngoài một chữ Hiếu. Văn tự Trung Quốc nói thật ra đã hiển rõ pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn. Trong văn tự Trung Quốc, chữ Hiếu này được tạo thành bằng cách “hội ý”, chúng ta hãy phân tách ý nghĩa của chữ này. Trong chữ Hiếu bao gồm những ý nghĩa gì? Tận hư không trọn khắp pháp giới là một thể, đây là hàm ý của chữ Hiếu. Phần trên của chữ Hiếu là chữ “lão”, phần dưới là chữ “tử”, chữ lão là đời trước, tử là đời sau, đời trước còn có đời trước nữa, quá khứ vô thỉ. Đời sau còn có đời sau nữa, vị lai vô chung, vô thỉ vô chung này hợp thành một thể gọi là Hiếu. Trong kinh Phật thường nói hư không và pháp giới là một thể, Phật dạy chúng ta tâm lượng phải “bao trùm hư không, lượng lớn nhiều như cát”[100] đó là ý nghĩa của chữ Hiếu. “Dọc cùng ba đời, ngang suốt mười phương” cũng là ý nghĩa của Hiếu, chữ Hiếu này bao gồm ý nghĩa chẳng thể nghĩ bàn! Sự tu học trong nhà Phật bắt đầu từ Hiếu đạo, cuối cùng đến thành Phật, Hiếu đạo làm tròn rồi gọi là thành Phật, Đẳng Giác Bồ tát còn một phẩm Sanh tướng vô minh chưa trừ nên Hiếu đạo còn thiếu sót một phần. Ai có thể làm tròn Hiếu đạo tới mức viên mãn rốt ráo? Chư Phật Như Lai mới làm tròn Hiếu đạo.

  Sau khi đức Thế Tôn diệt độ, ngài giao phó trọng trách giáo hóa chúng sanh cho Địa Tạng Bồ tát, đạo lý là ở chỗ này. Ai là Địa Tạng Bồ tát? Ai hiểu được Hiếu đạo, có thể tu đạo hiếu, ai có thể phát triển tuyên dương Hiếu đạo thì người đó chính là Địa Tạng Bồ tát. Địa Tạng Bồ tát rất nhiều! Trong kinh chúng ta đọc thấy: “Đại sĩ vô biên thân”, vô lượng vô biên đều là Địa Tạng Bồ tát. Quán Thế Âm Bồ tát đại từ đại bi là hiếu hạnh của Địa Tạng Bồ tát tỏa rạng rộng lớn. Chúng ta nói về tâm hiếu dưỡng cha mẹ, tôn kính sư trưởng, hiếu thuận hết thảy chúng sanh, tôn kính hết thảy chúng sanh, thì tâm đó sẽ biến thành Quán Thế Âm Bồ tát. Hiếu kính phải dựa vào lý tánh, không thể dựa vào cảm tình, tâm đó là Văn Thù Bồ tát.

Văn Thù tiêu biểu trí huệ, cho nên chúng ta sinh hoạt, xử sự, đãi người, tiếp vật phải dùng lý trí chứ đừng dùng cảm tình, cảm tình là mê, tình là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, tình tạo tội nghiệp. Tình thức biến hiện ra sáu nẻo, ba đường ác, trí huệ biến hiện ra Tứ thánh pháp giới[101], Nhất chân pháp giới, đó là sự sai khác giữa Tình và Trí. Người thế gian chúng ta thường nói phải có lý tánh, phải có lý trí, không thể dùng cảm tình làm việc, Văn Thù Bồ tát dạy chúng ta những điều này. Phổ Hiền Bồ tát thực hiện ba điều: Hiếu thân tôn sư, đại từ đại bi và thể hiện trí huệ trong đời sống, đó chính là Phổ Hiền Bồ tát. Đây là đặc sắc của Phật pháp ở Trung Quốc, dùng bốn Đại Bồ tát coi như là bốn cột trụ của giáo học Đại thừa Phật pháp, làm thành một cung điện đẹp đẽ huy hoàng, bốn cột trụ này thiếu một cũng không được, chúng ta phải biết bắt đầu học Phật pháp từ chỗ nào.

  Thế Tôn dặn dò Quán Thế Âm Bồ tát lưu thông kinh này cũng là dạy chúng ta, đặc biệt là thời Mạt pháp, tại sao vậy? Những việc nói trong kinh đều là sự thật trước mắt chúng ta, chúng ta không có biện pháp giải quyết, phải nhờ những người giác ngộ trong nhóm chúng ta tuyên dương giải thích cho hết thảy đại chúng. Không những chúng ta phải giải thích rõ ràng, chính mình phải làm cho bằng được, tiêu trừ nghiệp chướng tai nạn của mình, sau đó chúng ta mới có thể giúp đỡ người khác, những gì chúng ta nói mới có y cứ thật sự. Khi tai nạn xảy ra, chúng ta sẽ may mắn tránh được, chúng ta làm sao tránh được? Vì chúng ta tu học đúng theo lời dạy. Những chuyện tà ma quỷ quái nhập vào người thường xảy ra, người học Phật chúng ta gọi là bị ma dựa, ma dựa là gì? Tức là tà mị nhập vào người. Hầu như nơi nào chúng tôi cũng đều gặp, chúng ta có bị hay không? Cũng có, nhưng chẳng nghiêm trọng lắm.

Rất nhiều bạn đồng tu buổi tối ngủ thường bị quỷ đè, rất nhiều người có kinh nghiệm này. Hồi trước tôi cũng thường bị quỷ đè, lúc đó trong tâm biết rõ ràng nhưng không nhúc nhích gì được, sau khi học Phật thì không còn nữa. Lúc trước thầy Lý nói, chúng ta gọi đó là ma dựa, trong kinh Phật cũng có nói tới chuyện này. Lúc vận khí con người suy thoái thì quỷ lấn hiếp con người, còn lúc vận khí con người rất hưng vượng thì quỷ không dám lại gần, lúc bạn gặp vận suy thì quỷ sẽ lấn hiếp bạn, quỷ sẽ tới đè bạn. Từ những chuyện này chúng ta biết được đó là chuyện có thật, chẳng phải giả. Hiện nay ở Trung Quốc có những người có khả năng đặc biệt, tại ngoại quốc, chẳng hạn như ở Mỹ cũng có, người Trung Quốc gọi là gọi là công năng đặc biệt kỳ lạ, ở Mỹ chúng tôi cũng từng gặp, họ có con mắt thứ ba, họ có thể nhìn thấy những chuyện kỳ quái này, mắt thịt của người thường chúng ta không thấy, họ thấy được. Họ có thể thấy những quỷ quái này nhập vào thân người, họ có khả năng nhìn thấy, họ cũng có thể thấy những nội tạng trong thân thể người bị bệnh.

  Trước kia tôi ở Miami[102] đã gặp vài người Mỹ, Miami là một nơi rất kỳ quái, rất nhiều người kỳ lạ cư trú ở đó. Lúc ấy người tiếp đãi chúng tôi là cư sĩ Tăng Hiến Vĩ, ông ta ở đó thành lập một Niệm Phật Xã và mời tôi đến giảng kinh. Cư sĩ Tăng đã học Thiền, cũng đã theo học Mật với các vị Lạt ma, ông rất háo kỳ ưa thích những chuyện này nên ông thường tiếp xúc nhiều người như vậy. Chúng tôi thường nghe ông ta kể những chuyện này, tất cả đều là chuyện thật. Sợ không? Không cần phải sợ, sợ cũng không giúp được gì, không thể nói bạn sợ thì họ không tới, càng sợ thì họ càng làm dữ, vậy thì sợ làm chi. Nếu bạn không sợ thì họ không dọa bạn được, họ dùng hết chiêu thức dọa dẫm mà bạn không sợ thì tự nhiên họ sẽ bỏ đi. Nếu bạn sợ thật sự, họ cảm thấy rất có hiệu quả, thì họ sẽ khống chế bạn, nếu bạn không sợ họ, không đếm xỉa tới họ thì họ không có cách gì khống chế bạn. Đặc biệt là chúng ta tu tâm thanh tịnh, cảnh giới cao nhất là vô ngã, đúng như kinh Kim Cang có dạy: “Phá được bốn tướng”[103], hết thảy yêu ma quỷ quái đều không có, không bén tới được. Chúng ta hiểu được đạo lý này, biết những sự thật này, biết tự mình nên tu học như thế nào, thành tựu công đức chân thật, thành tựu chính mình, lợi ích chúng sanh.

  Quỷ thần, Ma vương cũng vậy, lúc họ không có cách gì quấy nhiễu bạn thì họ sẽ quay lại quy y hộ pháp, chúng ta coi Ma vương Ba Tuần làm hộ pháp cho đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Họ muốn phá hoại Phật pháp, thật ra là vì Tỳ kheo thời Mạt pháp chẳng thể y giáo phụng hành, họ đến gây phiền phức. Người thật sự có tu, có học thì họ cũng sẽ tôn kính hộ trì, Ma cũng hộ pháp. Đây chính là điều nói trong kinh Phật: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”. Ma cũng có Phật tánh, Mạnh Tử nói: “Con người ai cũng có lòng trắc ẩn”, nói như vậy rất có đạo lý. Người có xấu ác tới đâu khi nhìn người ta chịu khổ đôi lúc cũng sẽ sanh tâm thương hại, sẽ thông cảm với người đó, người ác còn có thể sanh tâm ấy huống chi là người thiện? Cho nên tự hành có thể cảm hóa hết thảy người ác, ác quỷ ác thần đều sẽ được cảm hóa.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 49, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

45. NƯƠNG TỰA KINH ĐỊA TẠNG VÃNG SANH BẬC THƯỢNG PHẨM

Chúng ta xem đoạn kinh văn tiếp theo:

Địa Tạng danh tự nhân nhược văn,

Nãi chí kiến tượng chiêm lễ giả,

Hương hoa y phục ẩm thực phụng,

Cúng dường bách thiên thọ diệu lạc,

Nhược năng dĩ thử hồi pháp giới,

Tất cánh thành Phật siêu sanh tử.

Như người nghe đến Địa Tạng danh,

Thậm chí thấy hình cùng chiêm lễ,

Hương hoa, thực phẩm, và y phục,

Cúng dường trăm ngàn hưởng diệu lạc.

Nếu đem hồi hướng khắp pháp giới,

Rốt ráo thành Phật, thoát sanh tử[104].

  Chúng ta đọc đoạn kinh này mới biết công đức tạo tượng thù thắng chẳng thể nghĩ bàn, nguyên nhân ở chỗ nào? Làm cho hết thảy chúng sanh có cơ duyên nghe danh hiệu, nhìn thấy hình tượng, bạn tạo cho họ có cơ hội này, cho nên công đức ấy rất thù thắng. Nhưng trong đó có một việc chúng ta nhất định phải biết, lúc Phật pháp thịnh hành thì mới có công đức thù thắng, tại sao vậy? Mọi người nhận biết, nghe tới danh hiệu Địa Tạng, nhìn thấy hình tượng Địa Tạng sẽ sanh tâm hiếu thuận cha mẹ, tâm tôn sư trọng đạo, tâm học theo hạnh nguyện của Bồ tát khởi lên, đây là danh hiệu hình tượng khơi gợi thiện niệm của chúng sanh, công đức đó quá thù thắng.

Nếu Phật pháp suy thoái chẳng có người tuyên dương, mọi người đều coi hình tượng của Phật, Bồ tát là ngẫu tượng, cho là mê tín, không thể nói là không có công đức, nhưng công đức này hiện nay sẽ không đạt được, hiện nay đạt được gì? Làm cho hết thảy chúng sanh tạo nghiệp, làm cho xã hội đại chúng nghĩ rằng quý vị đề xướng mê tín, quý vị sùng bái ngẫu tượng. Tuy tạo tội nghiệp nhưng những hình tượng này một phen lọt vào nhãn căn, danh hiệu lọt vào nhĩ căn sẽ vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo, công đức là ở chỗ này. Nhưng những tội nghiệp mà họ tạo, họ phải chịu quả báo hay không? Họ phải chịu quả báo, quả báo của tội nghiệp ở ba đường ác, sau khi chịu hết quả báo, khi họ thoát ra khỏi ba đường ác rồi gặp được thiện duyên, lúc đó thiện căn chín muồi, nhờ nhân duyên đó mới được độ, chúng ta phải hiểu những đạo lý này.

  Lúc nào là lúc thích hợp nhất để tạo dựng tượng Phật? Mọi người đều biết sau khi kinh giáo được tuyên dương phổ biến thì đúc nặn hình tượng Phật, Bồ tát sẽ đem lại chánh tri chánh kiến cho người ta, công đức đó vô lượng vô biên. Do đó chúng ta có nghĩa vụ phải làm cơ hội giáo dục, việc này trọng yếu phi thường! Hiện nay ở các nơi trên thế giới, hết thảy những kiến trúc Phật giáo, bất luận là cổ đại hay hiện đại hơn phân nửa đều biến thành những nơi cho người ta tham quan du lịch, người đi du lịch thường tới đó. Ở những chỗ đó nếu có thiện tri thức bất luận là xuất gia hay tại gia giới thiệu đơn giản ý nghĩa tiêu biểu pháp của hình tượng Phật, Bồ tát cho những người đi du lịch nghe, đó là cơ hội giáo dục. Họ đến tham quan đạo tràng, trong đạo tràng có thờ những hình tượng Phật, Bồ tát, giới thiệu từng vị cho họ biết, mỗi vị tượng trưng ý nghĩa gì, làm vậy cũng như giảng một bài học cho người đi du lịch, làm cho họ không đến nỗi hiểu lầm Phật pháp. Nói cho họ biết đó tuyệt đối không phải là thờ cúng ngẫu tượng, hết thảy những thiết trí trưng bày trong nhà Phật đều chứa đựng ý nghĩa giáo học sâu sắc trong đó.

Chúng ta nói về những vật dùng để cúng như hương, hoa, tràng phan, bảo cái đều có ý nghĩa tiêu biểu pháp. Dùng danh từ giáo dục hiện nay mà nói thì đó gọi là giáo cụ, công cụ giáo học. Để khi sáu căn chúng ta tiếp xúc tới liền nghĩ về ý nghĩa của vật đó, nghĩ mình nên học tập như thế nào, dùng những vật này để nhắc nhở chúng ta từng giờ từng phút, vì sợ chúng ta quên mất, sợ chúng ta lại mê hoặc trong đời sống hằng ngày, dùng những phương pháp nghệ thuật này làm cho chúng ta vừa vui mừng vừa nhắc nhở chúng ta. Đây là sự dạy học có trình độ nghệ thuật cao độ, chẳng phải là mê tín. Mê tín là quý vị hiểu lầm, hiểu sai, tại sao quý vị lại hiểu lầm? Tại sao hiểu sai? Vì chẳng có ai giải thích rõ cho quý vị, do đó sự hiểu lầm của đại chúng trong xã hội là điều có thể tha thứ. Lỗi lầm là lỗi của chúng ta, chúng ta là đệ tử Phật trong số những người xuất gia và tại gia, chúng ta chẳng làm tròn trách nhiệm, chẳng giải thích việc này rõ ràng cho xã hội đại chúng. Vì sao nghe danh hiệu, nhìn thấy hình tượng sẽ được lợi ích, họ được lợi ích bao lớn chúng ta đều phải hiểu rõ ràng, rành rẽ.

  Hai câu cuối này rất hay: “Nếu có thể dùng công đức đó để hồi hướng pháp giới”, làm thế nào hồi hướng pháp giới? Nói thật ra thì chỉ là mở rộng tâm lượng mà thôi. Chúng sanh trong thế gian niệm niệm đều vì lợi ích của chính mình do đó mâu thuẫn xung đột với xã hội và với chúng sanh sẽ vĩnh viễn không thể tránh miễn. Nếu bạn mở rộng tâm lượng thì vấn đề này sẽ được giải quyết. Chúng ta hãy nêu một thí dụ, từ thí dụ này chư vị hãy suy nghĩ cặn kẽ, chúng ta cư trú ở nhà mình dù không ra đường cũng thường có xung đột với hàng xóm, thân thích, bạn bè. Lúc bỏ quê nhà đi đến nơi khác sinh sống, gặp được một người cùng xứ sở, bạn gặp một người đồng hương thì sẽ cảm thấy rất thân thích, khác hẳn với lúc ở quê nhà. Lúc còn ở quê nhà thì bạn có xích mích, còn khi xa quê, xa nhà thì cảm thấy thân thích, phạm vi này lớn thêm một chút, đây là người cùng quê với mình.

Nếu ra nước ngoài gặp một người cùng xứ sở của mình thì tâm trạng đó sẽ càng khác hơn nữa, người đó không chỉ là người cùng làng, cùng tỉnh, mà là cùng một quốc gia, tâm trạng ấy sẽ khác thêm một chút nữa. Nếu tâm lượng của bạn mở rộng và coi tận hư không trọn hết pháp giới đều là một nhà, khi bạn gặp bất cứ một chúng sanh từ một cõi Phật nào bạn đều cảm thấy thân thiết, ý nghĩa của hồi hướng pháp giới là ở chỗ này. Cho nên sự hiểu lầm nhỏ, xích mích nhỏ đều được hóa giải hết. Chỗ vĩ đại của đức Phật là ngài coi tận hư không trọn khắp pháp giới đều là nhà mình, người nhà hiểu lầm chứ ngài chẳng có hiểu lầm người nhà, đó là thật chứ chẳng giả. Tận hư không, trọn khắp pháp giới đều là nhà mình thì cũng chưa thân thiết. Tận hư không trọn khắp pháp giới là chính mình, đó mới là lời chân thật, muôn vàn chính xác, chẳng có gì hư giả.

  Y báo, chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới là thân tướng của chính mình, đó là thân gì? Đó là pháp thân. Lúc nào chúng ta mới chứng được thanh tịnh pháp thân? Đến ngày nào bạn đột nhiên giác ngộ, và thấy tận hư không trọn khắp pháp giới đều là chính mình, bạn sẽ chứng được pháp thân thanh tịnh. Lúc bạn chứng được pháp thân thanh tịnh, thân hiện nay của bạn là thân nghiệp báo, thân nghiệp báo này liền chuyển biến thành báo thân viên mãn. Viên mãn báo thân là gì? Trí huệ hiện tiền, viên mãn báo thân là trí huệ thân, bạn sinh sống trong trí huệ chân thật, chúng tôi thường nói bạn sẽ sinh sống trong đời sống có trí huệ cao tột, thân đó chính là báo thân. Bạn sẽ dùng lòng thương yêu của bạn để giúp đỡ hết thảy chúng sanh, đó là hóa thân, thiên vạn ức hóa thân; bạn thấy chúng sanh có căn tánh khác nhau, chủng tộc khác nhau, nguyện vọng khác nhau, bạn sẽ dùng nhiều phương pháp khác nhau để thỏa mãn họ, chăm sóc họ, đem lợi ích cho họ, đó chính là trăm ngàn ức hóa thân.

  Phẩm này tới đây là chấm dứt, những gì nói trong phẩm này hoàn toàn là chân tướng sự thật, đều là hoàn cảnh sinh hoạt của chúng ta hiện nay. Những lý luận phương pháp mà đức Phật dạy chúng ta, cũng chính là điều chúng ta vô cùng cần thiết, ngày nay chúng ta sinh sống trong hoàn cảnh này, mỗi ngày đều trầy da tróc vảy nghĩ không ra phương pháp giải quyết, nơi đây đức Phật đều nói hết ra cho chúng ta biết, ngài từ bi tới cùng cực. Chín ngàn năm đời Mạt pháp chỉ có pháp môn này có thể cứu độ chúng sanh, đây là thật chứ chẳng giả. Dùng pháp này làm cơ sở, cơ sở thật sự, lúc khai kinh chúng tôi đã nói với chư vị, phước thứ nhất trong Tam phước dạy trong Quán kinh, kinh này dạy đầy đủ mười một câu trong phước thứ nhất của Tam phước.

Pháp môn Tịnh Tông dùng phước này làm cơ sở, dùng cơ sở này để niệm Phật cầu vãng sanh, nhất định sẽ được sanh Tịnh độ, vả lại có thể khẳng định vãng sanh Thượng bối, chắc chắn là bậc Thượng trong ba bậc vãng sanh. Tách khỏi cơ sở này thì vãng sanh sẽ không chắc chắn, lúc đó phải coi cơ duyên, người thế gian gọi là coi vận may, bạn có thể may mắn gặp được bạn tốt hay không? Cơ duyên chẳng phải có được một cách ngẫu nhiên, vẫn phải nhờ thiện căn phước đức đời trước chín muồi, gặp được duyên mới hữu dụng, đến lúc lâm chung mới có thể tin, có thể nguyện, có thể hành, thì người đó mới có thể hối cãi. Nếu có thể vun bồi cơ sở từ kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện này, thì cơ sở của bạn mới kiên cố, chắc thật. Cho nên: “Nếu có thể dùng công đức ấy để hồi hướng pháp giới, ắt sẽ thành Phật vượt thoát sanh tử”, chúng ta có thể tiếp nhận câu này, có thể tin tưởng và có thể khẳng định.

Thị cố Quán Âm nhữ đương tri.

Phổ cáo Hằng sa chư quốc độ.

Vì thế, Quán Âm, ông hãy nên,

Bảo khắp Hằng sa các cõi nước!

  Chúng ta kính mến Quán Thế Âm Bồ tát thì phải nên noi gương, học theo ngài, ngài đối với cõi nước nhiều như cát sông Hằng đều phổ biến tuyên dương Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh, chúng ta nên học theo và tuyên dương. Đặc biệt là chú giải của pháp sư Thanh Liên hay vô cùng, chúng ta học hoặc hoằng dương bộ kinh này và có cuốn chú giải này để làm tài liệu tham khảo là đủ rồi, trong đó trích dẫn kinh điển, sưu tập rất nhiều tài liệu. Lúc chúng ta khuyến cáo người ta, chúng ta có thể sưu tập những câu chuyện cảm ứng gần đây nhất mà trong kinh có nói, làm cho thính chúng tăng thêm lòng tin. Được rồi, hôm nay chúng tôi giảng tới đây thôi!

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 49, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

46. PHÁT NGUYỆN LÀM PHÂN THÂN CỦA ĐỊA TẠNG BỒ TÁT

Xin xem kinh văn:

Chánh sử thập phương chư Phật tán thán tuyên thuyết nhữ chi bất tư nghị sự, thiên vạn kiếp trung bất năng đắc tận.

Dầu cho chư Phật ở mười phương khen ngợi tuyên nói những sự không nghĩ bàn của ông, trong ngàn vạn kiếp cũng chẳng nói hết được[105].

Lời tán thán này đã đạt đến cùng cực, không những đức Phật Thích Ca Mâu Ni tán thán là chẳng thể nghĩ bàn, mười phương hết thảy chư Phật Như Lai đồng thanh tán thán ngài Địa Tạng Bồ tát có trí huệ đức năng, thân ngữ ý từ bi giáo hóa. “Trong ngàn vạn kiếp” là nói thời gian dài, “mười phương chư Phật” là nói số lượng nhiều; thời gian dài như vậy tán thán cũng không hết. Chúng ta không thể lơ là bỏ sót đoạn kinh này, trên thực tế nó tiêu biểu cho tánh đức của tự tánh, một phần hiếu kính trong tánh đức, đức hạnh ấy chẳng thể nghĩ bàn, chư Phật Như Lai tán thán cũng không thể tán thán hết. Tánh đức của Bồ tát khai hiển (khai triển, hiển hiện), mỗi người chúng ta cũng có đức năng giống hệt như Bồ tát, đáng tiếc là đức năng này chưa được khai hiển, làm sao mới có thể khai hiển? Noi theo phương pháp dạy trong kinh này mà tu học thì có thể mở mang tánh đức. Do đó danh hiệu của Bồ tát, tên của kinh này đều có hai chữ Địa Tạng. Địa tượng trưng cho tâm địa, Tạng tỷ dụ kho báu, tâm địa của chúng ta, lý địa chân tâm, trí huệ, thần lực, từ bi, biện tài đều chẳng thể nghĩ bàn, trong vô lượng đức năng ở đây chỉ nêu ra bốn thứ, trên thật tế thì mỗi loại đều chẳng thể nghĩ bàn.

Giống như các nhà tôn giáo ngày nay tán thán Thượng đế, khen ngợi Thần, trong lời tán tụng gọi là toàn tri toàn năng, chẳng có gì không biết, chẳng có gì không thể, nói thật ra đó là tánh đức trong tự tánh của chúng ta. Ngày nay chúng ta hiểu được, biết chính mình có đức năng này thì phải giác ngộ, phải phấn chấn, khôi phục trí huệ đức năng của mình, không những độ mình mà còn có thể độ hết thảy chúng sanh. Do đó có thể biết, Thế Tôn giao phó cho Địa Tạng Bồ tát, chúng ta hãy nghĩ coi có liên quan gì với chúng ta hay không? Nếu bạn hiểu rõ được ý nghĩa này thì sẽ biết nó có liên quan mật thiết với chúng ta. Chúng ta nương nhờ Địa Tạng Bồ tát để làm duyên, vậy thì Địa Tạng Bồ tát ở đâu? Những gì nói trong kinh này chính là ngài, chúng ta có thể tin, có thể hiểu, có thể làm theo thì chúng ta chính là phân thân của Địa Tạng Bồ tát, chúng ta sốt sắng không ngừng nâng cao cảnh giới thì chúng ta là một phân thân trong vô số phân thân của Địa Tạng Bồ tát, đó mới gọi là thật sự tu học pháp môn này.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 50, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

47. LỜI CĂN DẶN SAU CÙNG CỦA ĐỨC PHẬT THÍCH CA

Xin xem đoạn kinh kế tiếp:

Địa Tạng! Địa Tạng!

Này Địa Tạng! Địa Tạng[106]!

Chúng ta coi lời ghi trong kinh văn tỏ rõ Thế Tôn đau lòng rát miệng, từ bi đến cùng cực.

Ký ngô kim nhật tại Đao Lợi chư thiên trung, ư bách thiên vạn ức bất khả thuyết, bất khả thuyết nhất thiết chư Phật, Bồ tát, thiên long bát bộ, đại hội chi trung.

Ông hãy nhớ hôm nay Ta, trong cung trời Đao Lợi, nơi đại hội có trăm ngàn vạn ức không thể nói hết, không thể nói hết tất cả chư Phật, chư Bồ tát, cùng Thiên long bát bộ[107].

Trong đoạn này, “ký ngô” là lời đức Thế Tôn tự xưng, ông phải ghi nhớ lời của ta nói ở cung trời Đao Lợi, tại sao lại thêm chữ “chư thiên trung” sau chữ Đao Lợi? Ý nghĩa này rất rộng. Mọi người phải hiểu hội giảng kinh này chẳng khác gì với pháp hội giảng kinh Hoa Nghiêm. Pháp hội Hoa Nghiêm ở tại Bồ đề đạo tràng, chỗ này dung thông cùng với hư không pháp giới, cho nên tham gia pháp hội này bao gồm tận hư không, trọn khắp pháp giới hết thảy mọi loài chúng sanh, loài nào cũng chẳng sót, đây là Hoa Nghiêm hải hội. Hội giảng kinh Địa Tạng này cũng không ngoại lệ, tuy nơi giảng kinh là ở cung trời Đao Lợi, thiên cung của Đế Thích, đại chúng tham dự pháp hội cũng tận hư không, trọn khắp pháp giới, trên từ chư Phật Như Lai dưới đến người cõi trời, bao gồm luôn quỷ thần, pháp hội này thù thắng biết bao, to lớn biết bao! Do đó mới thêm chữ “chư thiên”. Thiên thần cõi trời Dục giới, Sắc giới đều tham gia pháp hội này.

Cho nên bốn chữ “Đao Lợi chư thiên”, Đao Lợi là nơi pháp hội giảng kinh, “chư thiên” là nói các vị thiên chúng tham dự pháp hội. “Ư bách thiên vạn ức bất khả thuyết bất khả thuyết nhất thiết chư Phật, Bồ tát” (nơi đại hội có trăm ngàn vạn ức không thể nói hết, không thể nói hết tất cả chư Phật, chư Bồ tát), pháp hội vừa mở đầu chúng ta liền thấy vô cùng thù thắng, mười phương ba đời hết thảy chư Phật đều tham dự pháp hội này, trong hết thảy kinh điển Đại thừa từ trước tới giờ chưa từng chứng kiến cảnh giới thù thắng như vậy. Đâu có bao giờ trong một lần giảng kinh mà hết thảy chư Phật đều tham gia, chưa từng nghe qua!

Trong hội giảng kinh Hoa Nghiêm chúng ta thấy cảnh giới này, trong hội giảng kinh Vô Lượng Thọ, kinh Di Đà chúng ta cũng thấy cảnh giới này, nhưng không phải vừa mở đầu tất cả chư Phật, chư Bồ tát liền tới tham dự. Trong kinh Tịnh độ đến phần Lưu thông mười phương chư Phật tán thán, trong kinh Di Đà chúng ta thấy có ghi sáu phương Phật, trong bản dịch kinh Di Đà của ngài Huyền Trang có ghi mười phương Phật, đây là vì bản dịch kinh của ngài La Thập đã lược bớt, tuy lược bớt chữ nhưng ý nghĩa vẫn viên mãn. Hết thảy chư Phật tán thán nhưng chẳng nói rõ ràng như trong kinh này, pháp hội vừa mở đầu thì chư Phật Như Lai liền tới tham dự, mãi cho tới khi pháp hội kết thúc, chư Phật tham dự suốt từ đầu tới cuối. Những vị Bồ tát, những vị Thiên long bát bộ hộ pháp đi theo chư Phật cũng vậy. Kinh Hoa Nghiêm nói về những chúng Bồ tát, chúng thần hộ pháp này rất nhiều, rất chi tiết, tổng cộng nói tới mười loại; kinh Địa Tạng tuy không nói chi tiết nhưng ý tứ cũng rất viên mãn, giống như kinh Hoa Nghiêm vậy.

Tải dĩ nhân thiên chư chúng sanh đẳng, vị xuất Tam giới tại hỏa trạch trung giả, phó chúc ư nhữ.

Một lần nữa đem các chúng sanh trong cõi trời người, những kẻ còn ở trong nhà lửa, chưa ra khỏi Tam giới, mà giao phó cho ông.

Chữ “tải” cùng nghĩa với chữ “tái” (lặp lại) , thời cổ thường dùng chữ này. “Tải” nghĩa là thêm một lần, phía trước đã giao phó, bây giờ lại giao phó thêm lần nữa sợ ngài quên việc này. “Nhân thiên chư chúng sanh” là chỉ chúng sanh trong lục đạo; “vị xuất Tam giới” (chưa ra khỏi Tam giới) cũng chỉ chúng sanh trong lục đạo. “Tại hỏa trạch trung”(ở trong nhà lửa) hỏa trạch là tỷ dụ, trong kinh Pháp Hoa đức Phật nói: “Tam giới như nhà lửa”, lửa tỷ dụ cho phiền não, chỉ cần phiền não không đoạn thì nhất định sẽ tạo ác nghiệp, nhân quả tuần hoàn, biển khổ không bờ bến. Bạn tạo ác nhân cảm chiêu ác quả, lúc chịu ác báo lại tạo thêm ác nhân, vĩnh viễn chẳng có ngày thoát khỏi, những chúng sanh này vô cùng đáng thương. Trong kinh Phật thường dùng danh từ “kẻ đáng thương” đặc biệt là chỉ chúng sanh trong lục đạo, ngài đem trọng trách độ tận chúng sanh trong lục đạo này giao cho Địa Tạng Bồ tát. Tại sao đức Phật giao cho Địa Tạng Bồ tát mà không giao cho những Bồ tát khác? Nguyên nhân này đã nói với chư vị ở phía trước rồi. Địa Tạng tượng trưng cho pháp căn bản, pháp căn bản là hiếu thuận cha mẹ, tôn kính sư trưởng, nếu không thể làm được thì bất cứ pháp môn nào khác cũng không làm được, cho nên ngoài Địa Tạng Bồ tát ra đức Phật không thể giao phó cho ai khác, đạo lý là như vậy.

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 50, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

48. ĐẠI HỘI VIÊN MÃN HY HỮU TRONG SUỐT 49 NĂM

Mời mọi người xem kinh văn:

Nhĩ thời thập phương nhất thiết chư lai, bất khả thuyết, bất khả thuyết chư Phật Như Lai, cập Đại Bồ tát, thiên long bát bộ.

Bấy giờ không thể nói hết không thể nói hết tất cả chư Phật Như Lai cùng Đại Bồ tát, Thiên long bát bộ[108].

Đại hội ở cung trời Đao Lợi kết thúc, ở đây chúng ta đặc biệt phải biết lúc đại hội vừa bắt đầu mười phương hết thảy chư Phật đều đến, chư Phật Như Lai trong hội này chẳng có một ai bỏ đi giữa chừng, chẳng có. Các ngài đều lưu lại đến lúc pháp hội kết thúc viên mãn, điểm này rất thù thắng, chẳng thể nghĩ bàn, chúng ta chưa từng thấy trong tất cả kinh điển. Có khi nào đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh mà nhiều vị Phật đến nghe như vậy, chưa có bao giờ. Trong hội giảng kinh Hoa Nghiêm, kinh Vô Lượng Thọ chúng ta cũng thấy mười phương Bồ tát đến dự chứ chẳng thấy Phật đến dự. Khi đức Phật giảng tới chỗ quan trọng, chư Phật mới đến chứng minh, đến thị hiện một lát. Đâu có như pháp hội này từ đầu tới cuối mười phương hết thảy chư Phật đều đến dự chẳng sót một ai, từ điểm này bạn mới biết tầm quan trọng của pháp hội này. Cho nên pháp này là pháp căn bản của nhà Phật, trong pháp Đại thừa bất luận là tu học pháp môn nào, kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện chính là cơ sở, là căn bản, lìa khỏi cơ sở này thì tu học bất cứ pháp môn nào chắc chắn cũng chẳng thành công, cho nên pháp hội này quan trọng phi thường!

Trích lục từ: “Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký Tập 51, HT. Tịnh Không chủ giảng, nhóm Diệu Âm chuyển ngữ”, cư sĩ Tâm Hiếu trích lục và chỉnh lý.

 

 

MƯỜI ĐIỀU CUNG KÍNH KHI ĐỌC TỤNG KINH SÁCH

  1. Lúc sắp mở sách ra đọc tụng, trước hết phải nên phát tâm cung kính như gặp vị khách quý, như đối trước các bậc tiên triết, ngõ hầu luôn ngộ nhập được dụng ý sâu xa của tác giả.
  2. Lúc sắp mở sách ra đọc tụng, trước hết phải nên phát tâm chí thành, thốt lời khẩn thiết, khen ngợi tác giả vận tâm từ cứu thế rộng lớn để soạn thành quyển sách này và vui mừng vì mình đã hữu duyên được đọc.
  3. Lúc sắp mở sách ra đọc tụng, trước hết phải nên rửa tay, súc miệng, đặt sách trên bàn sạch trong gian phòng sạch sẽ rồi mới mở ra xem.
  4. Lúc sắp mở sách ra đọc tụng, trước hết phải chỉnh đốn quần áo, ngồi ngay ngắn một lát, sám hối hết thảy những ác niệm, ác ngữ, ác hạnh như ganh ghét, khinh mạn, kiêu cuồng v.v…
  5. Lúc đọc tụng, hễ ngộ nhập được một câu một chữ nào cũng đều nên khởi lòng hoan hỷ lớn lao và tùy thời ghi chép những điều tâm đắc đó, đừng bỏ mặc cho quên mất.
  6. Lúc đọc tụng, phải nên nghĩ rộng rãi về ý nghĩa, thoạt đầu là dùng sách để nhiếp tâm, tiếp đó dùng tâm để chuyển nghiệp, cuối cùng tiến tới tâm niệm không ngừng nghỉ thực hành, khuyên dạy rộng rãi để chuyển thế giới Ngũ trược thành thế giới Cực Lạc.
  7. Lúc tâm khởi vọng niệm, hãy nên cung kính đặt sách xuống và tạm ngừng đọc.
  8. Đọc xong hoan hỷ, theo đúng pháp mà vâng làm, phải nên thường khởi lòng hâm mộ tâm hoằng pháp của các bậc cổ đức, tận lực bắt chước làm theo.
  9. Đọc hết bộ sách xong, phải nên nghĩ kỹ rộng rãi xu hướng trong xã hội hiện tại để nhiếp hóa rộng lớn, ngõ hầu những điều lành đều được lưu truyền.
  10. Đọc hết bộ sách xong, thấy được những chỗ có thể tuyên thuyết phù hợp với căn cơ liền vì người không biết chữ mà phương tiện diễn nói rộng rãi để tạo lợi ích lớn lao.

– Trích lục từ “Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên”.

 

 

MƯỜI CÔNG ĐỨC ẤN TỐNG KINH TƯỢNG PHẬT

  1. Những tội lỗi đã tạo từ trước, nhẹ thì được tiêu trừ, nặng thì chuyển thành nhẹ.
  2. Thường được các thiện thần ủng hộ, tránh được tất cả tai ương hoạn nạn, ôn dịch, nước, lửa, trộm cướp, đao binh, ngục tù.
  3. Vĩnh viễn tránh khỏi những quả báo phiền khổ, oán cừu oan trái của đời trước cũng như đời này.
  4. Các vị hộ pháp thiện thần thường gia hộ nên những loài dạ xoa ác quỷ, rắn độc hùm beo tránh xa không dám hãm hại.
  5. Tâm được an vui, ngày không gặp việc nguy khốn, đêm ngủ không thấy ác mộng. Diện mạo hiền sáng, mạnh khỏe an lành, việc làm thuận lợi, được kết quả tốt.
  6. Chí thành hộ pháp, tâm không cầu lợi, tự nhiên y phục đầy đủ, gia đình hòa thuận, phước lộc đời đời.
  7. Lời nói việc làm trời người hoan hỷ, đến đâu cũng được mọi người kính mến ngợi khen.
  8. Ngu chuyển thành trí, bệnh lành mạnh khỏe, khốn nghèo chuyển thành thịnh đạt. Nhàm chán nữ thân, mạng chung liền được nam thân.
  9. Vĩnh viễn xa lìa đường ác, sanh vào cõi thiện, tướng mạo đoan nghiêm, tâm trí siêu việt, phước lộc tròn đầy.
  10. Hay vì tất cả chúng sanh trồng các căn lành. Lấy tâm cầu của chúng sanh làm ruộng phước điền cho mình. Nhờ công đức ấy đạt được vô lượng phước quả thù thắng. Sanh ra nơi nào cũng thường thấy Phật, nghe pháp phước huệ rộng lớn, chứng đạt lục thông, sớm thành Phật quả.

Ấn Quang Tổ sư dạy: Ấn tống kinh, tượng Phật được công đức thù thắng như vậy, nên gặp khi chúc thọ, thành hôn, cầu phước, thoát nạn, sám hối, cầu tiêu trừ tật bệnh, cầu siêu độ hương linh, hãy tinh tấn phát tâm Bồ đề ấn tống, để trồng cội phước đức cho chính mình và thân bằng quyến thuộc.

 

 

Quý vị nào muốn phát tâm ấn tống sách này,

Xin liên hệ SĐT: 0981 19 07 93 (Gặp Đức Thành)

Email: giaohocphatgiao@gmail.com

 

[1] Lời bạt: Lời bình ở cuối quyển sách nhằm trình bày thêm một số ý kiến có liên quan đến tác phẩm.

[2] Liên Trì đại sư (1535 – 1615), cũng gọi là Châu Hoằng đại sư, Vân Thê đại sư, người đời nhà Minh, là Tổ sư đời thứ 8 của Tịnh độ tông. Đại sư lúc còn nhỏ đã thông minh lanh lợi, văn chương nổi tiếng khắp trong vùng, có căn duyên sâu với pháp môn Tịnh độ. Năm 32 tuổi, đại sư xuất gia học đạo với Thiền sư Tiếu Nham, tham cứu câu “Niệm Phật là ai?” liền đại ngộ. Năm 1571 (36 tuổi), đại sư đến núi Vân Thê ở Hàng Châu cất am tu hành, thí thực cho hổ đói, vì dân chúng mà niệm Phật cầu mưa, dân chúng hoan hỷ, cùng nhau xây đạo tràng cúng dường cho ngài. Đại sư cả đời đạo hạnh, hóa độ được rất nhiều người hữu duyên, để lại rất nhiều trước tác nổi tiếng như: A Di Đà Kinh Sớ Sao, Vãng Sanh Tập, Tịnh Độ Nghi Biện, Thiền Quan Sách Tấn, Phạm Võng Kinh Giới Sớ Phát Ẩn, Trúc Song Tùy Bút…

[3] Khảo đính: Tra cứu, xem xét để sửa lại cho đúng.

[4] Nguyên văn: Y! Bố bạch, thục túc bình thời bất như minh châu, hung niên tắc vi chí bảo. Cứu Mạt pháp chi hung niên, thị kinh kì khả thiếu da.

[5] Ngẫu Ích đại sư (1599 – 1655), tên thật là Chung Tế Minh, cũng gọi là Linh Phong đại sư, Trí Húc đại sư, người đời nhà Thanh, là Tổ sư đời thứ 9 của Tịnh độ tông. Đại sư thuở niên thiếu học Nho, từng soạn ra cuốn Tịch Phật luận để hủy báng Phật pháp. Năm 17 tuổi, sau khi đọc bộ Tự Tri Lục và Trúc Song Tùy Bút của Tổ Liên Trì, đại sư biết mình đã phạm phải sai lầm lớn, bèn đem cuốn Tịch Phật luận đốt đi. Năm 20 tuổi, nhân đọc kinh Địa Tạng, đại sư khởi phát chí nguyện xuất gia. Năm 23 tuổi, vào ngày 30 tháng 07 Âm lịch (vía Địa Tạng Bồ tát), đại sư đối trước tượng Phật phát 48 lời nguyện, tự xưng là Đại Lãng Ưu bà tắc. Năm 24 tuổi, đại sư xin xuất gia theo ngài Tuyết Lãnh, làm đệ tử ngài Hám Sơn, pháp danh là Trí Húc, tự là Ngẫu Ích. Cuộc đời của đại sư ngài cũng để lại nhiều trước tác như: Lăng Nghiêm Kinh Huyền Nghĩa, A Di Đà Kinh Yếu Giải, Kim Cang Kinh Phá Không Luận, Phạm Võng Kinh Hợp Chú, Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập Yếu, Tướng Tông Bát Yếu Trực Giải, Chu Dịch Thiền Giải, Tứ Thư Ngẫu Ích Giải v.v…

[6] Địa Tạng Tam kinh: Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh, Địa Tạng Thập Luân kinh và Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo kinh.

[7] Không – Giả – Trung, một giáo nghĩa lớn của tông Thiên Thai.

+ Không: Quán niệm rằng tất cả mọi hiện tượng đều nương nhau mà có, cho nên chúng không có bản chất chân thật, tất cả đều là không.

+ Giả: Quán niệm rằng tất cả mọi sự vật đều biến đổi luôn luôn (vô thường), không có tính đồng nhất, tuy chúng có hiện hữu, nhưng sự hiện hữu của chúng chỉ là giả tạm, không có gì tồn tại vĩnh viễn.

+ Trung đạo: Quán niệm rằng tất cả mọi hiện tượng vừa là không mà cũng vừa là giả, đồng thời không phải là không mà cũng không phải là giả.

Tham khảo quyển Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản của tác giả Hạnh Cơ.

[8] Chỉ thú: Tông chỉ và thú hướng. Giáo môn hay giáo nghĩa được một bộ kinh đề cao, đặc biệt tuyên dương gọi là tông hay tông chỉ. Mục đích hướng về hay pháp môn tu hành mà bộ kinh quy kết lại gọi là thú hay thú hướng. Chỉ thú cũng thường được gọi là “tông thú”.

[9] Chín pháp giới chúng sanh: 1- Địa ngục, 2- Ngạ quỷ, 3- Súc sanh, 4- Người, 5- A tu la, 6- Trời, 7- Thanh văn, 8- Duyên giác và 9- Bồ tát. Nếu nói Thập pháp giới hay mười pháp giới thì sẽ gồm thêm pháp giới thứ 10 là Phật.

[10] Hai loại sanh tử (nhị chủng sanh tử): Sự sanh tử của phàm phu sáu cõi thì gọi là “phần đoạn sanh tử” còn sự sanh tử (chuyển biến cảnh giới) của các bậc thánh nhân từ A la hán trở lên thì gọi là “biến dịch sanh tử”.

[11] Tam hoặc là Kiến Tư hoặc, Trần sa hoặc, Vô minh. Tam trí là Nhất thiết trí, Đạo chủng trí, Nhất thiết chủng trí. Tam giới là Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới. Tứ tướng là Vô thường, Khổ, Vô ngã, Bất tịnh. Tam thân là Pháp thân, Hóa thân, Ứng thân. Tứ đức là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.

[12] Núi Cửu Hoa nơi ứng tích của Bồ tát Ðịa Tạng có chín ngọn, thường được gọi là Phù Dung Cửu Ðảnh sơn hay Phù Dung Cửu Ðóa sơn. Đây là một trong Tứ đại danh sơn của Phật giáo tại Trung Quốc (Cửu Hoa sơn, Phổ Đà sơn, Ngũ Đài sơn và Nga Mi sơn), nằm về phía đông nam của thành phố Trì Châu, tỉnh An Huy, Trung Quốc.

[13] Khai sĩ: Một cách gọi khác của danh xưng Bồ tát, ý ở đây Tổ nói với tâm rất cung kính.

[14] Nguyên văn: Vô lịnh hỏa diệm huyễn tác kim liên.

[15] Ấn Quang đại sư (1861 – 1940), húy Thánh Lượng, biệt hiệu là Thường Tàm Quý Tăng, người vùng Thiểm Tây cuối đời nhà Thanh đầu năm Dân Quốc, là Tổ sư đời thứ 13 của Tịnh độ tông. Thuở bé đại sư học Nho, chạy theo học thuyết của Hàn Dũ – Âu Dương Tu nên thường hay hủy báng Phật pháp. Sau khi trải qua cơn bệnh nặng, đại sư tự xét biết lỗi của chính mình, liền dốc lòng sám hối. Năm 21 tuổi, đại sư  xuất gia với hòa thượng Đạo Thuần tại chùa Liên Hoa Động núi Chung Nam. Một lần nọ, đại sư nhân trong lúc phơi kinh được xem qua bộ Long Thư Tịnh Độ mà hiểu rõ được công đức của niệm Phật, bèn nhất tâm quy hướng Tịnh độ, khuyên người niệm Phật. Năm Dân Quốc thứ 19 (1931), đại sư đến đất Ngô, thành lập Tịnh độ đạo tràng tại chùa Linh Nham – Tô Châu, rộng truyền pháp môn niệm Phật, khuyến hóa khắp đại chúng: “Giữ vẹn luân thường, tin sâu nhân quả, làm lành lánh dữ, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây phương”. Mùa đông năm Dân Quốc thứ 29 (1940), đại sư dự biết kỳ vãng sanh, sau khi dặn bảo đồ chúng xong liền niệm Phật rồi tọa hóa tại đạo tràng Linh Nham Sơn, hưởng thọ 79 tuổi, tăng lạp 59 năm.

[16] Chữ “treo ngược” (đảo huyền) chỉ những người có tội sau khi đã chết bị đọa trong địa ngục, chịu những hình phạt khổ sở giống như bị treo ngược đầu xuống.

[17] Nguyên văn là Cứu cánh tức. Trong nguyên bản có ghi thêm một đoạn chú thích như sau: “Ngài Trí Giả tông Thiên Thai đã dùng khái niệm Lục tức để giải thích về Phật. Một là Lý tức Phật, hai là Danh tự  tức Phật, ba là Quán hạnh tức Phật, bốn là Tương tự tức Phật, năm là Phần chứng tức Phật, sáu là Cứu cánh tức Phật”. Cứu cánh tức Phật chính là quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, do đức Phật còn được gọi là Pháp Vương nên chúng tôi chuyển dịch chữ Cứu cánh tức thành Pháp Vương cho thuận với âm vận của bài kệ.

[18] Liên Trì Hải Hội, tức chỉ thế giới Tây phương Cực Lạc.

[19] Hoặc: Mê hoặc điên đảo, một danh từ khác đại biểu cho phiền não.

[20] Sư thừa: Quan hệ truyền thừa giữa thầy và trò.

[21] Ân võng cực: Đại ân của cha mẹ, chữ này xuất phát từ bài thơ Lục Nga trong thiên Tiểu Nhã kinh Thi: “Phụ hề sanh ngã, mẫu hề cúc ngã, phủ ngã, súc ngã, trưởng ngã, dục ngã, cố ngã, phúc ngã, xuất nhập phục ngã, dục báo chi đức, hạo thiên võng cực” (Cha sanh ra ta, mẹ nuôi nấng ta, vỗ về nuôi nấng, nuôi dạy lớn khôn, chăm nom, che chở, ra vào uốn nắn, muốn báo đức ấy, lồng lộng trời cao, khôn bề sánh ví!). Chín chữ “sanh, cúc, phủ, súc, trưởng, dục, cố, phúc, phục” thường được gọi là “cù lao cửu tự” (chín chữ cù lao).

[22] Cù lao: Ân cha mẹ, đây cũng là chữ xuất phát từ phần đầu bài thơ Lục Nga trong kinh Thi: “Lục lục giả nga, phi nga y hao, ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao. Lục lục giả nga, phi nga y úy, ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao” (Cỏ nga xum xuê, không phải cỏ nga, cũng là cỏ hao, xót thay cha mẹ, sanh ta nhọc nhằn; cỏ nga xum xuê, chẳng phải cỏ nga, cũng là cỏ úy; xót thay cha mẹ, sanh ta nhọc nhằn).

[23] Đây là một điển tích dựa theo câu chuyện trong sách Vật Do Như Thử. Theo đó, con quạ thấy mẹ nó đã già yếu không kiếm ăn nổi bèn tha mồi mớm cho quạ mẹ. “Trọn tấm lòng riêng của quạ” tức là trọn hết tấm lòng hiếu thảo vậy.

[24] Hoằng Nhất đại sư (1880 – 1942), người họ Lý, tự Thúc Đồng, người Bình Hồ, tỉnh Chiết Giang. Thuở còn trẻ, đại sư từng sang Nhật học về chuyên khoa mỹ thuật và làm giáo sư nhiều học hiệu trong nước. Năm dân quốc thứ 7 (1918), đại sư xuất gia ở chùa Đại Từ – Hàng Châu, sau đó thọ đại giới tại chùa Linh Ẩn, pháp danh là Diễn Âm, hiệu là Hoằng Nhất. Cả đời của đại sư rất ngưỡng mộ và luôn học theo hạnh của Ấn Tổ, không thâu nhận đồ chúng, không trụ hẳn ở một ngôi chùa nào, chỉ lấy việc viết chữ để kết duyên với người. Tuy hoằng truyền về Luật tông, đại sư vẫn ngầm tu Tịnh nghiệp, hằng lấy việc “Sống hoằng truyền giới luật, chết vãng sanh Tây phương” làm chí nguyện. Do tích cực hoằng dương về Luật tông nên ngài được đại chúng xưng tựng là Tổ sư của Luật Tông thời hiện đại. Tháng 11 năm Dân quốc thứ 31 (1942), đại sư ở Ôn Lăng, dự biết được thời khắc lâm chung, an tường niệm Phật mà vãng sanh, hưởng thọ 63 tuổi đời, 24 tăng lạp. Sau khi thiêu hóa, xá lợi thu được hơn 1800 hạt…

[25] Lời bạt cho kinh Địa Tạng, xin xem phần đầu của quyển sách.

[26] Xin xem phần Đại Sư Ngẫu Ích Cảm Ân Địa Tạng Bồ Tát ở đầu sách.

[27] Tịnh nghiệp Tam phước: Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu mười nghiệp thiện. Thọ trì Tam quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi. Phát tâm Bồ đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại thừa, khuyến tấn hành giả.

[28] Do sự tích này, trong khoa Mông Sơn Thí Thực cúng thí cô hồn mỗi chiều tại các Tự viện luôn có đọc bốn câu kệ này, tuy nhiên là chẳng dùng bản dịch của đời Tấn mà dùng bản dịch của đời Ðường (phẩm Dạ Ma Cung Kệ Tán thứ 20, Hán bộ quyển thứ 19, hội thứ 4, bài kệ của Giác Lâm Bồ tát, câu kệ thứ 37 đến câu kệ thứ 40).

[29] Xin xem phần “Bốn Vị Đại Bồ Tát Của Phật Pháp Đại Thừa” ở phía sau.

[30] Thầy Lý Bỉnh Nam (1891 – 1986), hiệu Tuyết Lư, người tỉnh Sơn Ðông Trung Quốc, là thầy của HT. Tịnh Không. Ngài sinh ngày 16 tháng 01 ( 07 tháng 12 năm 1980 âm lịch), mất ngày 13 tháng 04 (05 tháng 03 âm lịch), hưởng thọ 97 tuổi. Cả đời lão nhân gia tinh tấn tu hành, hoằng pháp lợi sanh, khuyến hóa được rất nhiều người niệm Phật vãng sanh; sau khi ngài vãng sanh, lúc trà tỳ thu được hơn ngàn viên xá lợi ngũ sắc.

[31] Quán kinh: Tức kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, cũng gọi là kinh Thập Lục Quán, một trong năm kinh Tịnh độ.

[32] Kinh Vãng Sanh, chính là năm kinh Tịnh độ: Kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, Phổ Hiền Hạnh Nguyện phẩm và Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông chương.

[33] Phẩm thứ 4, kinh Vô Lượng Thọ:

Nguyện an trụ vào Tam ma địa,

Hằng phóng hào quang chiếu khắp nơi,

Chạm đến được vào nơi thanh tịnh,

Thù thắng trang nghiêm không ai bằng.

Chúng sanh luân hồi trong các cõi,

Mau về cõi con hưởng an lạc,

Thường vận từ tâm cứu hữu tình,

Độ tận vô biên chúng sanh khổ.

[34] Kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ.

[35] Kiến Tư phiền não, cũng gọi là Kiến Tư hoặc, nói cụ thể hơn là Kiến hoặc và Tư hoặc. Kiến hoặc là kiến giải sai lầm, căn bản gồm 5 loại: Thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến, cũng gọi là Ngũ lợi sử. Tư hoặc là tư tưởng sai lầm, căn bản cũng gồm 5 loại: Tham, sân, si, mạn, nghi, cũng gọi là Ngũ độn sử. Ngũ độn sử và Ngũ lợi sử khi hợp chung lại thì gọi là Thập kiết sử, cũng gọi là Kiến Tư hoặc. 

[36] Nhị địa Bồ tát: Địa vị thứ 42 trong 52 giai vị tu hành của một bậc Bồ tát từ sơ phát tâm cho đến khi viên mãn thành Phật (Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác – Phật).  

[37] Nguyên văn: Từ bi đa họa hại, phương tiện xuất hạ lưu.

[38] Tam ác đạo (Tam đồ): Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh.

[39] Nguyên văn: Quang trung cực tôn, Phật trung chi vương.

[40] Nguyên văn: Thiếu thành nhược thiên tánh.

[41] Tam học: Giới, Định Huệ. Tứ nhiếp: Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự. Lục độ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ.

[42] Nguyên văn: Bổn lập nhi đạo sanh.

[43] Quán Trưởng: Tức cư sĩ Hàn Anh, Hàn Quán Trưởng, người đã hộ trì hòa thượng 30 năm.

[44] Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm Phật Sự, do Thiền sư Trung Phong biên soạn. 

[45] Nhà Nho vốn có 6 tác phẩm kinh điển nổi tiếng, gọi là Lục kinh, về sau Nhạc kinh bị thất truyền, đến đời Hán chỉ còn lại Ngũ kinh. Thời Hậu Hán, Luận ngữ và Hiếu kinh được đem gộp vào thành 7 tác phẩm, gọi là Thất kinh. Sau đó, Lễ kinh lại được tách thành ba và kinh Xuân Thu cũng được tách thành ba, thêm Nhĩ Nhã và Mạnh Tử nữa thành 13 tác phẩm, gọi là Thập Tam kinh, bao gồm: 1- Dịch, 2- Thư, 3- Thi, 4- Chu Lễ, 5- Nghi Lễ, 6- Lễ Ký (bao gồm cả Đại Học và Trung Dung), 7- Xuân Thu Tả Thị Truyện, 8- Xuân Thu Công Dương Truyện, 9- Xuân Thu Cốc Lương Truyện, 10- Luận Ngữ, 11- Hiếu Kinh, 12- Nhĩ Nhã và 13- Mạnh Tử.

[46] Trời Đao Lợi: Tầng trời thứ 2 trong 6 tầng trời ở cõi Dục. Đao Lợi là tiếng Phạn, Hán dịch là “Tam Thập Tam” nghĩa là ba mươi ba (33), tầng trời này nằm ở trên đỉnh núi Tu Di, chia làm 33 nước trời, 32 nước ở bốn phương xung quanh, mỗi phương 8 nước; chính giữa là Thiện Kiến thành của vua trời Đế Thích, vị Thiên chủ này thống nhiếp cả 33 nước trời.

[47] Phẩm thứ nhất: Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi.

[48] Ma gia phu nhân ở trên kinh Hoa Nghiêm là vị Thiện tri thức thứ 41 trong 53 vị Thiện tri thức đại biểu mà Thiện Tài Đồng tử đến tham học.

[49] Dục giới (có sắc thân và còn dục nhiễm), gồm 6 tầng trời: 1- Tứ Thiên Vương, 2- Đao Lợi, 3- Tu Diệm Ma (Dạ Ma), 4- Đâu Suất Đà, 5- Hóa Lạc và 6- Tha Hóa Tự Tại.

Sắc giới (có sắc thân nhưng không còn dục nhiễm), gồm 18 tầng trời: Từ trời Phạm Chúng, trời Phạm Phụ, cho đến trời Sắc Cứu Cánh, trời Ma Hê Thủ La.

Vô sắc giới (chỉ có định quả thân chứ không có thân về sắc chất), gồm 4 tầng trời: 1- Không Vô Biên Xứ, 2- Thức Vô Biên Xứ, 3- Vô Sở Hữu Xứ và 4- Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.

[50] Đẳng Giác Bồ tát: Quả vị Bồ tát cuối cùng trước khi viên mãn thành Phật, là địa vị thứ 51 trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát.

[51] Tứ hoằng thệ nguyện: Đại nguyện chung (thông nguyện) của mười phương ba đời chư Phật Bồ tát, gồm 4 điều: 1- Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, 2- Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, 3- Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, 4- Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

[52] Tạm dịch: “Nhân không chân chánh thì quả không tròn đầy”, câu này được trích ở trên kinh Lăng Nghiêm.

[53] Phẩm thứ nhất: Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi.

[54] Khoa Chú Kinh Địa Tạng của pháp sư Thanh Liên.

[55] Phẩm thứ nhất: Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi.

[56] Lục hòa kính: 1- Kiến hòa đồng giải, 2- Giới hòa đồng tu, 3- Thân hòa đồng trụ, 4- Khẩu hòa vô tranh, 5- Ý hòa đồng duyệt, 6- Lợi hòa đồng huân.

[57] Nguyên văn: “Đương hiếu ư Phật, thường niệm sư ân” (Phải hiếu với Phật, thường nhớ ân lão sư), trích từ phẩm Cần Tu Kiên Trì thứ 46 kinh Vô Lượng Thọ (bản hội tập của ngài Hạ Liên Cư).

[58] Phẩm thứ nhất: Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi.

[59] Phẩm thứ nhất: Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi.

[60] Ngũ trược ác thế, tức đời ác năm trược, gồm 5 loại: 1- Kiếp trược: Thời đại loạn lạc, kiếp sống mông lung; 2- Kiến trược: Cái thấy sai lầm, mê hoặc điên đảo (kiến hoặc, ngũ lợi sử); 3- Phiền não trược: Phiền não tập khí dẫy đầy (tư hoặc, ngũ độn sử); 4- Chúng sanh trược: Xã hội động loạn bất an; 5- Mạng trược: Thọ mạng ngắn ngủi, mong manh. 

[61] Phẩm thứ hai: Phân Thân Tập Hội.

[62] Phẩm thứ hai: Phân Thân Tập Hội.

[63] Chánh pháp 1.000 năm, Tượng pháp 1.000 năm và Mạt pháp 10.000 năm.

[64] A Dật Đa Bồ tát, tức Di Lặc Bồ tát, cũng gọi là Từ Thị Bồ tát, Vô Năng Thắng Bồ tát.

[65] Phẩm thứ tư: Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh Ở Cõi Diêm Phù.

[66] Phẩm thứ tư: Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh Ở Cõi Diêm Phù.

[67] Sơ trụ Bồ tát: Địa vị thứ 11 trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát, đây cũng là địa vị “minh tâm kiến tánh” đầu tiên trong 52 giai vị (Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác – Phật).  

[68] Phẩm thứ tư: Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh Ở Cõi Diêm Phù.

[69] Nguyên văn đầy đủ: “Tín vi đạo nguyên công đức mẫu, trưởng dưỡng nhất thiết chư thiện căn”, câu này được trích ở trên kinh Hoa Nghiêm.

[70] Kinh Vãng Sanh, tức năm kinh Tịnh độ: Kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Đại Thế Chí Bồ Tát Viên Thông Chương trong kinh Lăng Nghiêm.

[71] Phẩm thứ tư: Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh Ở Cõi Diêm Phù.

[72] Tam hiền: Chỉ các bậc Bồ tát từ địa vị Sơ trụ đến Thập hồi hướng (10 bậc Trụ, 10 bậc Hạnh và 10 bậc hồi hướng, tổng cộng là 30 ngôi thứ). Thập thánh: Chỉ các bậc Bồ tát từ địa vị từ Sơ địa đến Thập địa (10 ngôi thứ).

[73] Phẩm thứ năm: Danh Hiệu Của Địa Ngục.

[74] Kinh văn (phẩm thứ sáu: Như Lai Tán Thán): Nhĩ thời Thế Tôn cử thân phóng đại quang minh, biến chiếu bách thiên vạn ức Hằng hà sa đẳng chư Phật thế giới, xuất đại âm thanh phổ cáo chư Phật thế giới nhất thiết chư Bồ tát Ma ha tát, cập thiên long quỷ thần nhân phi nhân đẳng. Thính ngô kim nhật xưng dương tán thán Ðịa Tạng Bồ tát Ma ha tát, ư thập phương thế giới hiện đại bất khả tư nghị oai thần từ bi chi lực, cứu hộ nhất thiết tội khổ chi sự.

Lúc đó toàn thân Thế Tôn phóng đại quang minh, chiếu khắp trăm ngàn vạn ức số cát sông Hằng thế giới chư Phật, phát ra âm thanh lớn bảo hết thảy chư Bồ tát Ma ha tát và thiên long quỷ thần, nhân, phi nhân, v. v. ở khắp các thế giới chư Phật. Hãy lắng nghe hôm nay Ta xưng dương tán thán Ðịa Tạng Bồ tát Ma ha tát ở mười phương thế giới hiện sức từ bi oai thần to lớn không thể nghĩ bàn, cứu giúp hết thảy những sự tội khổ.

[75] Phẩm thứ sáu: Như Lai Tán Thán.

[76] Địa thượng Bồ tát, chỉ các bậc Bồ tát từ Sơ địa trở lên.

[77] Phẩm thứ sáu: Như Lai Tán Thán.

[78] Bốn giai cấp của Ấn Độ thời xưa: 1- Bà la môn (giáo sĩ), 2- Sát đế lợi (vua chúa), 3-Vệ xá (thương nhân) và 4- Thủ đà la (tiện dân).

[79] Phẩm thứ sáu: Như Lai Tán Thán.

[80] Phẩm thứ chín: Xưng Danh Hiệu Chư Phật.

[81] Tám tướng thành đạo: 1- Giáng trần, 2- thác thai, 3- Đản sanh, 4- Xuất gia, 5- Hàng ma, 6- Thành đạo, 7- Chuyển pháp luân và 8- Niết bàn.

[82] Hiển giáo: Các tông phái ngoài Mật tông (Mật giáo) đều gọi là Hiển giáo. Giáo hạ: Các tông phái ngoài Thiền tông (Tông môn) đều gọi là Giáo hạ.

[83] Phẩm thứ mười: Nhân Duyên Và So Sánh Công Đức Bố Thí, gọi tắt là Bố Thí phẩm.

[84] Về sau khi giảng đến phẩm Kiến Văn Lợi Ích thứ mười hai, hòa thượng đã giảng như sau:

Phẩm thứ 12: Thấy Nghe Được Lợi Ích. Trong đoạn này, pháp sư Thánh Nhất ở núi Đại Dự gọi phẩm kinh này là Tăng bảo, ngài quy kết đoạn cuối của kinh này vào Tam bảo, điều này cổ đại đức chưa nói qua. Pháp sư Thánh Nhất giảng kinh này lần đầu ở Cửu Hoa Sơn, đoạn cuối quy kết vào Tam bảo, nói hay vô cùng. Tôi rất tán thán ngài, quy kết về Tam bảo mới là lợi ích chân thật. Cấu trúc của bộ kinh này rất hay, phần mở đầu kinh, đức Phật phóng hào quang thành những vầng mây sáng rỡ, phần kết thúc của kinh lại phóng hào quang rực rỡ. Chúng ta đọc qua nhiều kinh điển Đại thừa, trong kinh nói đức Phật phóng hào quang hơn phân nửa đều chỉ phóng một lần, còn hai lần, ba lần, nhiều lần thì rất ít. Trong kinh này, phần đầu và cuối đều phóng hào quang…

[85] Phẩm thứ mười: Nhân Duyên Và So Sánh Công Đức Bố Thí.

[86] Nguyên văn: “Triển khai kinh bổn, đắc tâm ứng thủ, tả hữu phùng nguyên”, câu này ngụ ý rằng khi pháp sư đã hiểu thông suốt một bộ kinh, dẫu gặp một câu kinh nào chưa hề nghiên cứu đến trong một bộ kinh, vừa đọc liền hiểu rõ ý chỉ, có thể giảng thông suốt, tâm nghĩ sao miệng liền nói ra không cần phải tra cứu tài liệu, hoặc tìm tòi cách giải thích, cứ thao thao nói ra mà không sai ý chỉ của kinh.

[87] Cư sĩ Hàn Anh (1922 – 1997), tức Hàn Quán Trưởng, bà sinh ngày 13 tháng 03 (15 tháng 02 âm lịch), mất ngày 05 tháng 03 (27 tháng 01 âm lịch), hưởng thọ 76 tuổi. Hòa thượng Tịnh Không khai thị rằng: “Việc vãng sanh của Hàn Quán Trưởng là do phước báo to lớn của bà, hơn một trăm người niệm Phật cho bà, niệm suốt 49 ngày. Ở Đài Loan thật sự hiếm có, pháp sư vãng sanh cũng không được như bà; khi bà đi, bà hai lần nhìn thấy đức Phật A Di Đà, một lần nhìn thấy Liên Trì Hải Hội, bà nói với tôi như thế. Sau khi ra đi, ở trong Bệnh viện chúng tôi trợ niệm cho bà 14 tiếng, sau đó dời linh về thư viện, một tuần sau mới nhập liệm…”.

[88] Một bình bằng 36 nhật xích, tương ứng với khoảng 3,3 mét vuông.

[89] Nguyên văn: Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại.

[90] Phẩm thứ mười một: Địa Thần Hộ Pháp.

[91] Phẩm thứ mười một: Địa Thần Hộ Pháp.

[92] Năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm.

[93] Phẩm thứ mười hai: Thấy Nghe Được Lợi Ích.

[94] Phẩm thứ mười hai: Thấy Nghe Được Lợi Ích.

[95] Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện thứ bốn mươi trên kinh Hoa Nghiêm, một trong năm kinh Tịnh độ.

[96] Đại sư Chương Gia (1890 – 1957), một vị tức lãnh tụ tôn giáo của Phật giáo Tạng truyền khu vực nội Mông Cổ (Lạt Ma đời thứ 19), tương truyền là hóa thân của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi. Đại sư thị hiện viên tịch vào ngày 04 tháng 03 (04 tháng 02 âm lịch) năm 1957, hưởng thọ 67 (68) tuổi.

[97] Phẩm thứ mười hai: Thấy Nghe Được Lợi Ích.

[98] Phẩm thứ mười hai: Thấy Nghe Được Lợi Ích.

[99] Phần khoa phán trong sách Khoa Chú của pháp sư Thanh Liên.

[100] Nguyên văn: Tâm bao thái hư, lượng châu sa giới.

[101] Tứ thánh pháp giới: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật.

[102] Miami (phát âm như “Mai-a-mi”), một thành phố của tiểu bang Florida, Hoa Kỳ.

[103] Vô nhân tướng, vô ngã tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng.

[104] Phẩm thứ mười hai: Thấy Nghe Được Lợi Ích.

[105] Phẩm thứ mười ba: Dặn Dò Cứu Ðộ Nhân Thiên.

[106] Phẩm thứ mười ba: Dặn Dò Cứu Ðộ Nhân Thiên.

[107] Thiên long bát bộ (tám bộ chúng), bao gồm: 1- Thiên chúng (chư thiên), 2- Long chúng (loài rồng), 3- Dạ xoa chúng (quỷ thần dạ xoa), 4- Càn thát bà chúng (thần tấu nhạc của trời Đế Thích), 5- A tu la chúng (thần phi thiên), 6- Ca lâu la chúng (loài kim sí điểu), 7- Khẩn na la chúng (thần múa hát của trời Đế Thích), 8- Ma hầu la già chúng (đại mãng xà thần).

[108] Phẩm thứ mười ba: Dặn Dò Cứu Ðộ Nhân Thiên.

BÌNH LUẬN

Tên hiển thị
Xin hãy nhập usser của bạn